Chủ Nhật, 7 tháng 4, 2013

LÊ DUẨN VÀ VÕ NGUYÊN GIÁP

Hôm nay kỷ niệm 106 năm ngày sinh ông Lê Duẩn, cố Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều báo và blog đã đăng bài về ông, trong đó có cả bài của Tiến sĩ Lê Kiên Thành nhắc lại những kỉ niệm về cha mình với nhan đề: "Cha tôi, Lê Duẩn và kỉ niệm với Trung Quốc". Tôi thì vẫn ấn tượng với câu nói hão nổi tiếng của ông năm 1976: "Trong vòng 10 năm tới mỗi gia đình Việt Nam sẽ có một radio, một TV và một tủ lạnh". Cùng thời gian này, cả nước đang sôi nổi kỉ niệm 38 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975). Hai nhân vật lịch sử nổi tiếng nhất gắn liền với sự kiện trọng đại này là ông Lê Duẩn và ông Võ Nguyên Giáp. Có nhiều tin đồn đã lan truyền về cách ứng xử không đẹp của ông Duẩn với ông Giáp sau năm 1975. Nhân dịp sinh nhật cố Tổng Bí thư, blog E xin giới thiệu một bài viết đã được phổ biến trên mạng về hai nhân vật nói trên. (NCT).

Có rất nhiều câu chuyện về mối quan hệ giữa Võ Nguyên Giáp và Lê Duẩn được lan truyền trong dân chúng. Trong những câu chuyện đó, thực cũng có mà hư cũng có. Sau năm 1975, người đời thường bàn tán, ca ngợi ông Giáp giỏi chữ “Nhẫn”, nếu không, khó tránh khỏi tai họa? Một vị tướng huyền thoại, một khai quốc công thần, tự nhiên lại bị “thất sủng” như vậy, làm người dân trong nước và nước ngoài đều kinh ngạc. Nếu chúng ta nhìn lại lịch sử thế giới cũng như lịch sử dân tộc Việt Nam, thì cái sự thăng trầm ấy của ông Giáp là có thể hiểu được. Xưa nay, người quân tử bao giờ cũng thường thua tiểu nhân đó sao!

Từ rất sớm, ông Giáp đã có vị trí rất cao trong Đảng và Nhà nước. Năm 1940, Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Hồ Chí Minh tại Thúy Hồ, Côn Minh. Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh có thể nói là cuộc gặp gỡ lịch sử. Hai người sau này trở thành hai nhân vật nổi bật nhất trên bầu trời chính trị Việt Nam.
Võ Nguyên Giáp là người hết sức thân cận Hồ Chí Minh, ngay từ những ngày còn hoạt động bí mật, cùng nằm trong một cái lán giữa rừng suy nghĩ về con đường giải phóng. Có thời gian, Hồ Chí Minh mệt nặng tưởng chừng không qua khỏi, Võ Nguyên Giáp luôn ở bên cạnh và đã đón thầy lang bốc thuốc khỏi bệnh. Chiến dịch Biên Giới, cả Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đều ra trận và đã giành đại thắng. Võ Nguyên Giáp có lần đánh đàn piano để Hồ Chí Minh nghe. Hồ Chí Minh gọi Võ Nguyên Giáp là người anh Cả của quân đội. Giáo sư Đặng Thai Mai nói với con gái, ông Cụ cưng và thương anh Văn.
Sau ngày lập nước, Võ Nguyên Giáp đã là Bộ trưởng Nội vụ, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội, Bí Thư Đảng đoàn Chính phủ, là nhân vật trên thực tế chèo lái Nhà nước Cộng hoà non trẻ khi Hồ Chí Minh đi Pháp 4 tháng. Ông là một nhà báo, từng làm Chủ tịch Hội báo chí Bắc Kỳ, một cử nhân kinh tế, một nhà luật học. Ông còn là một nhà ngoại giao sắc sảo, làm người Pháp phải nể phục tại Hội nghị Đà Lạt.

Lê Duẩn thì khác. Ông hoạt động chủ yếu ở miền Trung và miền Nam, lần thứ hai bị tù Côn Đảo sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, cách mạng tháng Tám thắng lợi mới được tàu ra đón về. Trong cuộc chiến với người Pháp, ông vẫn tiếp tục hoạt động ở miền Nam. Bấy giờ, ông được dân chúng miền Nam yêu mến, còn các nhà lãnh đạo thì gọi ông là “ông 200 ngọn nến” – chỉ độ sáng đặc biệt trong tư duy của ông. Mặc dù là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, song về mặt chính quyền, ông chỉ là Trưởng phòng dân quân. Trong khi đó, ông Giáp là Tổng tư lệnh, chỉ đạo chiến trường cả nước, kể cả chiến trường Lào và Miên. Nam Bộ lúc bấy giờ có một loạt tên tuổi vang bóng: Trung tướng Tư lệnh Nguyễn Bình, các trí thức nổi tiếng Kha Vạn Cân, Ung Văn Khiêm, Trần Bửu Kiếm, Phạm Ngọc Thuần, Luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, Giáo sư Phạm Thiều…
Năm 1952, Lê Duẩn có ra Bắc và lần đầu tiên gặp Võ Nguyên Giáp. Thế mà, không hiểu căn cứ vào đâu, Lê Kiên Thành, con trai Lê Duẩn, trong một cuộc trả lời phỏng vấn, trích một câu của ông Giáp nói: “Đời tôi đi làm cách mạng là nhờ anh Ba”???!!!

Chiến trường chính trong cuộc chiến với người Pháp là chiến trường Bắc Bộ. Mặc dù phải chiến đấu trong vòng vây, Võ Nguyên Giáp chỉ huy ba quân đối đầu và lần lượt hạ đo ván bảy tướng Pháp: Lơcle, Valuy, Bledô, Cácpăngchiê, Đờlát, Xalăng và Nava. Sau chiến thắng Điên Biên Phủ, hòa bình được lập lại trên nửa nước Việt Nam, tên tuổi Võ Nguyên Giáp vang dội trên toàn thế giới, chỉ sau Hồ Chí Minh. Khi ấy, ở miền Bắc, dân chúng chưa được biết nhiều về Lê Duẩn.

Lê Duẩn đã sớm tiên đoán không thể có bầu cử thống nhất hai miền và đã soạn thảo Đề cương cách mạng miền Nam. Cũng thời điểm ấy, Võ Nguyên Giáp được Hồ Chí Minh giao phụ trách chỉ đạo soạn thảo Nghị quyết 15, với hai người giúp việc là Hoàng Tùng và Trần Quang Huy. Điều ngạc nhiên là tư tưởng của Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp về cách mạng miền Nam có nhiều điểm trùng hợp.

Năm 1957, Lê Duẩn được Hồ Chí Minh điều ra Bắc. Lúc bấy giờ, Trường Chinh phải từ chức sau sai lầm cuộc cải cách ruộng đất. Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng kiêm Tổng bí thư với hai trợ lý là Võ Nguyên Giáp và Nguyễn Duy Trinh. Lê Duẩn rất khéo léo trong các mối quan hệ, có nhiều ý kiến sắc sảo. Võ Nguyên Giáp đề nghị Bộ Chính trị cử Lê Duẩn làm Phó Tổng bí thư để dễ làm việc, song Lê Duẩn từ chối và nói “nên chờ đến Đại hội quyết định”. Khi được đề nghị làm Trưởng ban chuẩn bị Báo cáo chính trị (Đại hội III), Lê Duẩn cũng từ chối và nói: “Đã 10 năm không ở miền Bắc, chủ trì chuẩn bị Báo cáo chính trị e khó khăn, vì vậy đề nghị hai đồng chí Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp cùng tham gia Ban chuẩn bị Báo cáo chính trị”.

Đại hội III đã bầu Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất. Võ Nguyên Giáp đã ba lần đề nghị Lê Duẩn kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương nhưng Lê Duẩn nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”. Có thể thấy, Võ Nguyên Giáp đối với Lê Duẩn rất thiện chí.
Sau ngày đất nước thống nhất, hành trình của hai ông có vẻ ngược nhau. Trong khi tiếng nói của Lê Duẩn trong mọi lĩnh vực có tính chất quyết định, thì Võ Nguyên Giáp dần dần không còn đảm đương Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư quân ủy Trung ương nữa. Đến năm 1982, Võ Nguyên Giáp không còn ở trong Bộ Chính trị và đến năm 1991 thì ông thôi đảm đương các chức vụ chính thức. Lê Duẩn mất năm 1986, trước Đại hội VI – Đại hội “Đổi mới”. Các nhà nghiên cứu thường tự hỏi, nếu Lê Duẩn còn sống, liệu có cuộc “đổi mới” hay không?
Ông Giáp có một gia đình hoà thuận, hạnh phúc, gần như không bị mang tiếng bất cứ điều gì. Trái lại, đời sống riêng gia đình ông Duẩn nhiều khi sóng gió, với hai bà vợ. Bà vợ hai Nguyễn Thuỵ Nga sau khi ra Bắc phải sang Thiên Tân học. Bà đã kể lại cho nhà báo Xuân Ba nghe rất nhiều sự kiện xung quanh cuộc sống của gia đình bà.

Khi mới ra Bắc, Lê Duẩn thường tâm sự với Võ Nguyên Giáp những khó khăn trong công việc. Và ông thường kể với ông Giáp, năm 1940, nhờ có chị Thái (vợ đầu ông Giáp) nên Lê Duẩn thoát khỏi án tử hình.
Võ Nguyên Giáp đánh giá:
Trong hơn 10 năm đầu xây dựng CNXH trên cả nước, đã phạm sai lầm nghiêm trọng: muốn nhanh chóng thực hiện kinh tế XHCN với hai thành phần quốc doanh và tập thể ở trình độ cao; vận dụng triệt để cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bài xích mọi quan hệ thị trường…vội vã nhập tỉnh, nhập huyện, nhập xã, nhập HTX…Những chủ trương không phù hợp quy luật đó đã làm cho nền kinh tế nước ta lầm vào khủng hoảng trầm trọng…”. “Những khuyết điểm, sai lầm nói trên là trách nhiệm chung của Bộ Chính trị và Trung ương, trong đó anh Ba là người chủ trì có trách nhiệm lớn”.
Anh Ba “có những phản ứng quá mức đối với những ý kiến khác mình. Điều đó đã hạn chế không khí dân chủ nội bộ, nhất là về những năm cuối đời”. 

Võ Nguyên Giáp viết rất nhiều tác phẩm quân sự xuất sắc. Còn Lê Duẩn thường không tự mình viết, mà nói ý cho trợ lý, thư ký ghi rồi ông xem lại. Võ Nguyên Giáp đạt được sự yêu mến gần như tuyệt đối của toàn quân, là người anh Cả đầu tiên và duy nhất của quân đội. Võ Nguyên Giáp là một nhà sử học hàng đầu, còn là một nhân chứng đặc biệt. Thế giới nghiên cứu nhiều về Võ Nguyên Giáp. Phương Tây đặc biệt ca ngợi Võ Nguyên Giáp – kể cả những người từng là đối thủ của ông. Đờ Cát nói ông rất tự hào khi được thua trận trực tiếp ông Giáp.

Hai con người. Hai tài năng. Hai tính cách. Hai số phận. Có giống nhau và có khác nhau. Tôi không dám và tất nhiên – không đủ tư cách để so sánh hai ông, chỉ phác lên vài nét về hai ông, qua các tài liệu lịch sử đã được công bố công khai.
Võ Nguyên Giáp có một bài viết về Lê Duẩn rất thiện chí với những đánh giá rất thoả đáng. “Dĩ công vi thượng – đặt lợi ích dân tộc lên trên hết” – đó là phương châm sống của Võ Nguyên Giáp, làm nên nhân cách Võ Nguyên Giáp, cho nên, ông luôn được người đời ca ngợi và tự hào

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

Trời buồn gió cao

Giới thiệu: Tôi viết bài tản văn này, tặng nhà văn Chu Lai và các bạn trong trại sáng tác kịch bản đang ở Đà Lạt. (NXH)
Không hiểu sao, tôi cứ tôi cứ tin chắc rằng, Trịnh Công Sơn đã viết “Hạ trắng” cho Đà Lạt, và ngay tại Đà Lạt.
Khi mấy anh em ngồi trong quán vắng ở Nhà sáng tác Văn học nghệ thuật Đà Lạt, cà phê sáng thường là cười xả láng để cân bằng với những giờ viết lách cặm cụi, bỗng có phút yên ắng chuyển chuyện, một giai điệu “Hạ trắng” bỗng vang lên. Tất cả như chìm đi trong không gian Đà Lạt, âm thanh Đà Lạt, quá khứ và hiện tại Đà Lạt. Lúc đó, chỉ có một mầu, đó là màu Đà Lạt. Đà Lạt “nắng lên thắp đầy” và “nhiều hoa trắng bay”…

quán cafe ở Nhà sáng tác Đà Lạt
Đố ai có dịp đến Đà Lạt, mà lại không đi phố, không dạo quanh hồ Xuân Hương, không chu du trên những con đường đồi quanh co lên xuống ở thành phố cao nguyên, không thăm thác và ngắm hoa, không thở than với mây với gió... Thế mà có đấy. Có một nhóm người điên rồ đến Đà Lạt, tự giam mình vào một khu nhà trang nghiêm bên đồi thông vắng. Làm gì? Có lẽ có một toan tính gì ghê gớm lắm. Trong khi cuộc sống đang sôi lên với bao nhiêu sự kiện. Nào là Vụ án Đoàn Văn Vươn, lịch sử không có hai lần. Rồi có đến 44 triệu ý kiến góp vào Dự thảo Hiến pháp. Khiếp chưa? Nào là xa hơn trên trời Đông Bắc, Kim Un cuồng lên, hăm he đe dọa chiến tranh… Thế giới toàn chuyện động trời, kinh khủng. Vậy mà có một nhóm người trẻ và chưa già, do nhà văn Chu Lai và Nhà viết kịch Lê Duy Hạnh cầm đầu, lại đến Đà Lạt chỉ để bàn cách… viết kịch.
 Khi tôi nói chuyện này với ông bạn nhà văn già ở Hà Nội, ông Tô Đức Chiêu buông một câu: Đúng là chuyện… kịch. Nói đi Đà Lạt, nếu không phải là du lịch cũng là vui thú. Nói đi trại viết, nếu chả đàn đúm thì cũng là xả hơi. Thế thì trại của ông Chu Lai thật sự là đặc biệt. Có nói ra, đặc biệt là các nhà văn đã từng đi trại, chẳng thể nào tin.
Nhà văn Chu Lai
Riêng tôi, tôi thấy mình đã may mắn vì đã được sống trong Đà Lạt đúng hai tuần, khác hẳn với những lần gặp Đà Lạt trước. Sống trong Đà Lạt, hay Đà Lạt sống trong tôi, không biết nữa. Xét cho cùng, đến đây để nhìn ngắm và vui thú, chưa chắc đã tìm thấy “nó”. “Nó” phải là không gian yên tĩnh của đồi thông, cái sống chậm từ thời Y-ec-sanh tìm ra cao nguyên này chỉ còn lại mỏng manh với những biệt thự như ngái ngủ trong chiều râm mát. “Nó” chính là giai điệu lạ lùng của bài Hạ trắng hiển hiện về.
Hãy nhốt bọn trẻ U50, U40 trong một không gian Đà Lạt như vậy 2 tuần. Có thể điên lên được đấy, nhất là đối với một đám trời đày vì có tâm hồn nghệ sĩ. May mà có những chuyện tiếu lâm bất tận ở quán sáng cà phê, để xả street. Nhưng chiều thì không thể cà phê được. Chiều bỗng rỗng ra. Mà cái âm hưởng “Tôi đưa em về/ Chân em bước nhẹ / Trời buồn gió cao / Đời xin có nhau…” cứ ám lấy mình. Có lẽ, chỉ có nhà văn Chu Lai, người thày đáng kính của cả trại, là có được cảm giác “tôi đưa em về”, kể từ ngày khai trại… Tôi đã thấy hai cô gái đẹp đến chơi với Chu Lai, nhưng ở đây không có Chu Lai -nhà -văn, mà chỉ có Chu Lai -người -thày -đáng -kính, nên anh đã phải đưa hai cô gái đó về trong khung cảnh “trời buồn gió cao”
Vâng. đây là Đà Lạt, trời buồn gió cao…
(Đà Lạt ngày 06/4/2013

Chợ đêm

Chợ đêm Đà Lạt có lẽ là một chợ đêm còn giữ được tính chất của “chợ ngày”. Ban ngày thế nào, ban đêm gần giống như thế. Vào thứ bảy, chủ nhật cuối tuần, thêm toán cảnh vệ đeo băng đỏ, dựng cái chắn lỏng lẻo để ngăn xe cộ, cho dân tình đi bộ một đoạn đường đi đến khu nhà chợ. Và, bổ sung đặc sản của màn đêm. Thế là thành cái gọi là “chợ đêm Đà Lạt”.
Tôi đến chợ đêm Đà Lạt, nghĩ tiếc cho Đà Lạt, thành phố du lịch. Tiếc và thương cho lãnh đạo của địa phương đã được quá khứ để lại cho di sản vô giá là một thành phố cao nguyên, mà không biết tận dụng di sản để "câu" dân du lịch..

Nếu có dịp đi Trung Quốc, mới thấy càng thương càng nhớ đất nước mình. Sao họ lại làm ra những thứ chợ đêm hấp dẫn du khách đến thế? Sao những anh “Tàu ngố” lại chợt khôn đến thế, khi bày đặt ra chợ đêm?
Trong số chợ đêm ở đất nước đáng thương và đáng giận đó, chợ đêm ở Quảng Châu là hay nhất. Phố Bắc Kinh ban ngày đã là phố đi bộ. Ban đêm thì thoắt lung linh với đèn lồng, với ngàn vạn sao sa. Ở đó, nếu anh là người Việt, anh có thể cúi nhìn xuống lòng đường, qua lớp kính, thấy một đoạn đường phố Phiên Ngung thời Triệu Vũ đế Đà. Có một lần, một anh Tàu bảo tôi: Ngày xưa, thủ đô ở đây, nước mày là quận huyện. Tôi đã kiêu hãnh bảo: Phải. Ngày xưa nước tao đến tận đây, bây giờ ở đây là Hán hóa, chỉ còn nước tao còn tên Việt mà thôi. Bạn Tàu đấy cười xòa, biết là bị hố.
Người đi chợ đêm Quảng Châu có thể mua hàng đống rẻ bèo, có thể mua hàng hiệu như dân Việt Nam đi vào “Pác-sờn” hay đi Tràng Tiền… Và cũng có rất nhiều người đi để chẳng mua bán gì, họ đi chơi, đi ăn cái không khí tấp nập ở đó. Người ta thiết kế ra chợ đêm, là vì lợi dụng cái mà ngày không có, đó là ánh sáng của đèn đuốc, biển hiệu. Chợ đêm Quảng Châu là bữa tiệc của ánh sáng và màu sắc. Cái mà Quảng Châu không có, thì Đà Lạt có một cách tự nhiên, đó là đường phố trong thung lũng, nằm bên một phố lưng đồi, đêm xuống, cả một không gian ánh sáng không cần tạo dựng đã có rồi. Thế mà… đáng tiếc.
Tôi đã đi chợ đêm ở Thượng Hải, phố Vương Phủ Tỉnh nổi danh. Đó lại là một loại chợ đêm mà dân Thượng Hải lộ rõ ý đồ con buôn lọc lõi. Biết rằng đến đó sẽ bị móc túi, mà vẫn muốn đến. Đi bộ rạc cả cẳng. Đó là một thành phố trong thành phố. Bàn tay chính quyền rõ ràng và cả quyết. “Nó” xây hẳn một vương quốc nhà cửa, lầu son gác tía, chưng diễn xã hội cổ đại Trung Hoa từ ăn hút đến mua sắm.
Tôi thích nhất chợ đêm ở Quế Lâm. Chiều đứng trên hành lang khách sạn, thấy một phố rộng như đường Hùng vương ở Hà Nội. Tối ngó đầu ra, đã thấy cơ man nào là lều trại, rồi người và đèn chen nhau tấp nập. Dĩ nhiên sáng hôm sau mọi thứ lại biến mất. Chợ đêm Quế Lâm khéo léo đến nỗi, không nhìn thấy đâu bàn tay sắp đặt, nó dân dã và quê quê, nhưng mà trật tự. Du khách được nhìn thấy chiều sâu của dân tộc Trung Hoa. Có thể thấy ở đây sản phẩm làng nghề, đồ ăn dân tộc… mà chỉ chợ đêm người ta mang ra, mục tiêu là móc túi khách du lịch. Người ta có thể làm ngay, bán ngay. Tôi đã đợi mươi phút để một anh Tàu khắc cái dấu tên trên đá, giá chỉ vài chục tệ. Thật là một kỷ niệm thú vị khi đến đó. Đó cũng lại là cái khôn của người Tàu, người mà chúng ta thường gọi là “Tàu ngố”. Sao người Việt không học cái ngố ấy đi.
Tôi không thất vọng khi đi đến chợ đêm Đà Lạt. Bởi vì tôi hình dung ra cái chợ đêm chắc là nó sẽ thế. Rất nhiều hoa quả, đặc trưng của đất này. Nhưng người ta đi chợ đêm mua thứ hoa quả, rau dưa mắm muối đó để làm gì? Để mang đến một chỗ khác nhóm lửa nấu nướng ư? Du khách đến đây đâu phải chỉ để mua những thứ Sài Gòn có, Nha Trang cũng có… Tôi ngờ rằng, những người làm du lịch ở nước ta đi nước ngoài chắc chỉ để “trả thù dân tộc” chứ không quan sát và học hỏi xem người ta đã làm như thế nào…
Hà Nội thực ra không có chợ đêm. Mấy phố cổ ngăn xe cộ để đi bộ thì chỉ là chợ tối. Còn loại chợ đêm thực sự thì lại là chợ của người lam lũ. Chợ đầu mối họp từ 2 giờ đêm ở các cửa ô. Chợ hoa đêm họp từ 1 giờ đêm khu vực Quảng Bá… Tôi đã có lần dẫn một anh chàng Mỹ đi chợ đêm của dân lao động. Dưới chân ngọn đèn đường, hàng trăm xe đạp, xe máy thồ tấp nập trao đổi. Xe tải đỗ gần đó, để các ông bà chủ nhỏ đến mặc cả mua buôn. Hoa và rau làm cuộc sang tên đổi chủ như vậy. Sáng ra, người Hà Nội thức dậy, thì những ông bà chủ thật sự của hoa và rau đã trở về nhà ở ngoại ô… Anh Mỹ kia thốt lên: Hay lắm. Tôi đã rất vui, và ân hận khi hỏi tiếp rằng anh vui thế nào. Hắn bảo: Nước Mỹ có loại chợ này cách đây những 100 năm.
Đi chợ đêm ở thành phố cao nguyên, tẩn mẩn nghĩ vớ va vớ vẩn. Có lẽ chỉ có những người vô công rỗi việc mới nghĩ ra như thế.
(NXH 07/4/2013)

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

THÁNG TƯ NHỚ VỀ “HOA ANH ĐÀO”

Hoa anh đào (Tiếng Nhật là Sakura) là quốc hoa của Nhật Bản. Đặc điểm của nó là rơi trong khi còn đương độ tươi thắm. Đối với người Nhật, hoa anh đào không chỉ tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao mà còn là nỗi buồn về sự ngắn ngủi, phù dung và tính khiêm nhường, nhẫn nhịn. 
Đầu tháng 4 năm 1997 tôi đến Nhật Bản lần đầu tiên đúng vào mùa hoa anh đào đang nở rộ. Có cô gái tên là Sakura Ichinohe đưa tôi đi làm việc ở Tokyo, rồi đi  thăm vườn hoa anh đào ở cố đô Kyoto, quê hương cô. Sakura lúc đó còn đang học tiếng Việt, nên nói ngọng lắm. Chúng tôi đã đi với nhau một tuần và cô đã để lại cho tôi ấn tượng thật đẹp về phụ nữ Nhật. Ở vườn anh đào cổ Kyoto, Sakura bảo tôi giơ tay ra hứng hoa rơi, nhắm mắt lại và thầm ước điều mình muốn. Tôi hứng mãi chả được, bao nhiêu người cũng thế. Hoa cứ lướt nhẹ qua bàn tay rồi lại bay đi mất.  Năm nay có blog E, tự nhiên hứng lên, tìm lại mấy bức ảnh chụp 16 năm về trước rồi viết bài thơ này để tri ân với Sakura, cô gái Nhật 16 năm chưa gặp lại. (NCT)


NHỚ SAKURA

Tháng tư Hà Nội vào mùa hạ
Quê em nơi ấy mới đầu xuân
Mặt trời mọc hoa khoe màu sặc sỡ
“Sakura” - tôi nghe gió thì thầm.

Kyoto em có còn ở đó?
Cố đô ngày này hoa nở chưa em?
Bao nhiêu người thăm vườn anh đào cổ?
Ai giơ tay hứng được cánh hoa mềm?

Sakura, tôi có thể nào quên
Em ngọng nghịu nói lời chào tiếng Việt
Tôi chợt hiểu nết khiêm nhường người Nhật
Khi dưới hoa em chào cúi rạp mình.

Say rượu Sakê đôi mắt si tình
Nhìn hoa rụng thấy cuộc đời ngắn ngủi
Bốn mươi xuân, sao vẫn còn nông nổi?
Hoa anh đào cứ nở thắm trong tôi.


Mười sáu năm hình bóng chẳng phai phôi
Nét dịu dàng nụ cười em gái Nhật
Hoa cứ giữ điều tôi mong ước nhất
Để hồn tôi phủ kín cánh hoa rơi.

Tháng tư làm xao xuyến trái tim tôi
Hoa anh đào khoe sắc màu xứ sở
Kí ức lại ùa về bao nỗi nhớ
Nghe lòng mình thầm gọi Sakura...

                                                                                        
                                                             
                                                                                                    (NCT – 4/2013)

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Xin ngả mũ kính trọng ngài Alan Phan

Cầu nguyện ngày 2/4/2013, cuộc đời
có lối đi riêng, Phật cũng mỉm cười
Giới thiệu: Alan Phan là chuyên gia tư vấn kinh tế, chủ trang web http://www.gocnhinalan.com mà có lần TQH đã trích đăng bài trên blog này. Gần đây, Phan đã viết bài, nêu quan điểm rằng hãy để thị trường bất động sản rơi tự do, Nhà nước đừng nên cứu trợ thị trường này, sẽ chỉ làm cho nhóm lợi ích có lợi, còn người mua nhà thì không được gì, và làm méo mó thị trường. Quan điểm của Phan là "để cho thị trường tự chữa bệnh", và nó có ích là giá nhà cửa sẽ giảm, hàng chục nghìn hộ gia đình có cơ hội mua nhà, vài trăm đại gia mới nổi sẽ chết, không sao cả.

Sau khi Phan đăng bài này, Hiệp hội bất động sản nhảy dựng lên, phản đối và đưa ra 15 câu hỏi thách thức Phan trả lời. Alan Phan đã trả lời bằng một lá thư có ý vừa giễu vừa coi thường. Báo chí chính thống vào cuộc, bới móc đời tư của Alan Phan, cho rằng Phan đã bị ra tòa vì lừa dối chứng khoán. Song, thực ra, Phan đã vượt qua phiên tòa với tuyên bố vô tội, tuy nhiên gia sản khánh kiệt (báo chí chính thống lờ đoạn cuối đi).
Ông Nguyễn Trung đã viết thư ngỏ, phân tích :ai là người bị nhảy dựng lên khi Alan Phan cho rằng để bất động sản rơi tự do?
Tiên đoán của Alan Phan là: Nhà nước sẽ lại cứu thị trường Bất động sản, 30.000 tỷ lại rơi vào túi các đại gia thân chính phủ, Hiệp hội Bất động sản "chạy" điều này. Và, những người chưa có nhà thì hãy quên đi việc giá nhà đất về giá trị thật. Tôi cũng hy vọng con cái mình mua nhà, và tôi cũng thất vọng cùng Alan Phan.
Sau đây là thư ngỏ của Alan Phan gửi Hiệp hội Bất động sản, nếu bạn nào quan tâm thì đường dẫn: TẠI ĐÂY

NHỮNG PHÚT CUỐI ĐỜI CỦA ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH


Nhiều người còn nghi ngờ về cái chết bí ẩn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một vị tướng kiệt xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Một số người thì nhận thấy những nét giống gương mặt ông ở người này, người nọ. Có tin đồn đại ông có con riêng giờ giữ chức to. Tôi không bàn đến chuyện đời tư của Đại tướng vì không có trong tay thông tin đáng tin cậy. Tôi chỉ muốn thông tin đến các bạn độc giả Blog E về cái chết của Đại tướng mà với tư cách một người từng làm báo, tôi nhận thấy thông tin này có thể tin cậy được. Đây là hồi ức của bà Nguyễn Thị Bảo, Đại tá, bác sĩ, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa A3 Viện Quân Y 108 về những giây phút cuối cùng của Đại tướng. Sự ra đi của ông đột ngột nhưng giản đơn đúng phong cách của  người lính chiến. Bài này viết ra cách đây 16 năm, nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của Đại tướng (6/7/1967).  Tôi xin đăng lại để các bạn rộng đường suy luận sau khi có bài viết của nhà văn NXH đăng trên Blog E ngày hôm qua. (NCT)

 Chúng tôi là những người được sống và công tác cùng anh Thanh tới khi anh mất. Hàng năm cứ mỗi lần đến viếng mộ và thắp hương bàn thờ anh thì niềm thương, nỗi nhớ cứ dâng trào trong chúng tôi. Anh Thanh – một vị tướng thao lược, nhưng rất giản dị, gần gũi với những người cộng sự. Từ các đồng chí bí thư, bảo vệ, lái xe, bác sĩ đến đồng chí nấu ăn, ai ai cũng thương quý anh như người ruột thịt trong một gia đình.
Năm nay, càng gần tới ngày giỗ lần thứ 30 của anh (6/7/1967-6/7/1997) trong mỗi chúng tôi càng gợi lại bao kỷ niệm sâu sắc, bao bài học về anh mà trong đó kỷ niệm về những ngày trước và sau giây phút anh ra đi tại Viện Quân y 108 cứ đọng lại mãi trong ký ức chúng tôi rõ mồn một.
Hồi đó, tôi là bác sĩ thuộc Ban quân y thủ trưởng, phụ trách sức khỏe các gia đình có cán bộ đi B. Trưa ngày 5 tháng 7 năm 1967, tôi đến nhà chị Cúc (vợ anh Nguyễn Chí Thanh), thấy chị ngồi ăn cơm một mình, tôi hỏi nhỏ:
- Sao chị không chờ anh về ăn cùng?
- Anh đi ăn cơm khách – chị khẽ trả lời và kéo tôi ngồi xuống ăn cơm cùng. (Từ thời kỳ chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, gia đình anh chị và chúng tôi gắn bó như anh chị em ruột thịt, gặp bữa cơm nếu chưa ăn là ngồi vào ăn luôn).

Chị em tôi ăn sắp xong thì anh Thanh ở ngoài bước vào trong bộ lễ phục trắng, quân hàm Đại tướng với dáng đường bệ và vui vẻ. Nhìn thấy tôi, anh khen: “Cô Bảo ở nhà chăm sóc sức khỏe chị và các cháu tốt anh mừng”. Rồi anh ngồi xuống cạnh chị Cúc, anh nói khẽ: “Chiều nay Cúc đi ăn cơm khách với anh nhé!”.
Với nét mặt hơi buồn, chị không trả lời thành tiếng, đầu chị nghiêng nghiêng không ra vẻ gật, cũng không ra vẻ lắc từ chối, đôi mắt chị nhìn anh trìu mến. Tôi thầm đoán là anh lại sắp vào B mà chuyến này đi với bao gian nguy trọng trách nên chị buồn lo. AnhThanh đứng dậy và nói: “Hai chị em tiếp tục ăn đi, anh lên nhà nghỉ trưa một tí đã”. Tôi nhìn theo bước chân nhanh nhẹn của anh đang đi trên cầu thang mà lòng mừng vui về sức khỏe của anh không hề suy suyển sau chuyến đi B dài vừa qua.
Anh Nguyễn Chí Thanh đi B từ 1964, cuối tháng 6 năm 1967 anh được Trung ương và Bác Hồ triệu tập ra hội nghị để báo cáo tình hình miền Nam và nhận thêm chỉ thị mới. Còn một ngày trước khi lên đường mà bao nhiêu công việc dồn dập: trưa 5/7/1967, ăn cơm chia tay với Bác Hồ, nghe Bác dặn dò thêm; chiều đồng chí Võ Nguyên Giáp mời ăn cơm và trao đổi thêm nhiệm vụ. Sau bữa cơm về nhà muộn, anh còn làm việc với đồng chí Song Hào, Lê Quang Đạo, Phạm Ngọc Mậu, rồi đồng chí Vũ Tuân bên Văn phòng Trung ương sang gặp làm việc thêm.
Khoảng hơn 11 giờ đêm anh mới được nghỉ và bắt đầu nói chuyện với chị Cúc, dặn dò các con trước khi đi xa. Anh Thanh còn nhắn bác Diệp nấu ăn lên dặn: chị chuẩn bị hai cốc cà phê vào lúc 4 giờ sáng (6/7/1967), một cốc cho anh và một cốc cho bác sĩ Thuận đi theo anh vào B.
Gần 1 giờ sáng anh mới đi ngủ. Khoảng 3 giờ sáng anh Chắt bảo vệ đến nhà dưới đánh thức bác sĩ Thuận – người phụ trách sức khỏe riêng của anh Thanh, thấy anh Thanh kêu đau tức ngực và nóng ran trong bụng như có cào xé, bác sĩ Thuận đo huyết áp: 140/80; mạch 80 và khuyên anh nằm yên để mời kíp cấp cứu Viện Quân y 108 đến nhà. Anh bảo bác sĩ Thuận đi gọi điện báo cáo Trung ương tình trạng anh bị ốm bất ngờ. Bác sĩ Thuận đưa anh lên xe ô tô.
Trên xe với tư thế nằm, anh vẫn nói chuyện với anh Chắt bảo vệ và anh Thuận. Xe đến phòng cấp cứu Viện Quân y 108, bác sĩ Thuận đề nghị đưa cáng ra khiêng anh vào giường. Anh Thanh đùa: “Chú Thuận chúa hình thức, quan trọng hóa”, rồi anh ngồi dậy đi thẳng vào buồng cấp cứu.
Ở đó đã có Viện trưởng Nguyễn Thế Khánh và bác sĩ Phạm Tử Dương ra đón ngay. Anh Thanh vừa ngồi xuống giường, rồi nằm xuống, tự nhiên anh phát ra một tiếng “ặc”, mặt và toàn thân tím ngắt. Các bác sĩ xoa bóp ngoài lồng ngực, tiêm các thuốc trợ tim, điều trị cấp cứu tích cực, nhưng không kết quả.
Thế là các nhà chuyên môn phải chuyển anh lên phòng mổ can thiệp ngoại khoa mổ lồng ngực, kích thích trực tiếp vào tim do Giáo sư Phạm Gia Triệu và bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản thực hiện nhiệm vụ này. Ngay sau đó, các đồng chí Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y, đồng chí Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch, giáo sư Tôn Thất Tùng và bao nhiêu chuyên gia tim mạch trong và ngoài quân đội đến đầy đủ để tham dự cấp cứu anh. Nhưng tim anh vẫn chỉ co bóp rời rạc.
Đến 9 giờ sáng ngày 6/7/1967 tim anh ngừng đập và anh đã tắt thở hoàn toàn, với chẩn đoán cuối cùng: nhồi máu cơ tim (gây cơn đau ngực, lan xuống động mạch chủ bụng) gây chết đột ngột (mort subite).
Đúng 9 giờ sáng ngày hôm đó, xe đón chị Cúc có tôi đi cùng xuống Viện Quân Y 108, chúng tôi nhập vào đoàn y tế vừa cấp cứu anh xong, cùng các bạn bè thân thiết, các đồng chí tổ chức Trung ương chuyển linh cữu anh Nguyễn Chí Thanh đến đặt tại Hội trường Viện Quân y 108.
Hôm sau, 7 tháng 7 năm 1967, linh cữu anh được chuyển về hội trường Câu lạc bộ quân nhân Hoàng Diệu để tổ chức lễ viếng và truy điệu. Hồi đó, đang thời kỳ máy bay giặc Mỹ leo thang ra miền Bắc, nên không có truyền tin rộng rãi, chỉ có một bài xã luận báo Nhân Dân ca tụng về tài năng, đạo đức, công lao đồng chí Nguyễn Chí Thanh.

Lễ tang anh, người đến viếng rất đông, ai ai mắt cũng đỏ hoe vì quá thương tiếc anh. Đặc biệt, khi Bác Hồ đến viếng, Bác lau nước mắt thì nhiều người khóc nấc lên.
Để tránh bom đạn giặc Mỹ, lễ đưa tang anh Nguyễn Chí Thanh rất muộn, đến nghĩa trang Mai Dịch thì trời tối hẳn. Đêm 7 tháng 7 năm 1967, tức là đêm 30 tháng 5 Đinh Mùi không có trăng, chỉ có ánh sao lờ mờ, nên tang lễ anh càng đượm buồn...  
                                                                           (Dr NTB-1997)