Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

Đi tìm sự thật về Chí Phèo - Bá Kiến

Vũ Đức

Chí Phèo, Bá Kiến, Thị Nở đã đi vào tâm trí hàng triệu triệu học sinh và người dân Việt Nam nhờ kiệt tác văn học “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao và một bộ phim cũng đứng vào hàng kiệt tác điện ảnh “Làng Vũ Đại Ngày Ấy”. Nhưng anh Chí, cụ Bá là ai, có tồn tại ngoài đời hay chỉ là một hình tượng dưới ngòi bút Nam Cao?

Làng quê Nam Cao vốn tên là làng Đại Hoàng thuộc tổng Cao Đà, phủ Lý Nhân, huyện Nam Sang, tỉnh Hà Nam. Làng Đại Hoàng xưa, nay đã đổi tên thành xã Hòa Hậu (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) với cả chục xóm nằm dọc theo bờ đê tả sông Châu Giang.

Vào thắp hương cho cố nhà văn Nam Cao ở khu tưởng niệm, chúng tôi được ông Trần Hữu Vịnh, là người trông nom khu di tích, kể cho nghe nhiều chuyện về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nam Cao. Ông Vịnh cũng là một người cháu trong dòng họ của Nam Cao.

Ông Vịnh cho biết: “Xưa kia có một người không rõ lai lịch đến sống ở Đại Hoàng, ông này bê tha nát rượu. Hàng ngày thường lê la ở chợ. Món khoái khẩu của Y là nhắm rượu với phèo lợn. Đó là ruột non của lợn, đoạn có nhiều chất bột. Nếu làm lòng lợn thông thường thì người ta thông ruột cho ra bớt những chất bột ấy đi. Nhưng làm phèo thì họ cứ để cả thế đem luộc. Tay Chí thường nhắm rượu với món đó và sau khi say rượu hắn lại về cái lò gạch bỏ hoang nằm phèo ra ngủ, nên cả làng gọi hắn ta là Chí Phèo”.

Tuy biết khá nhiều chuyện nhưng ông Vịnh cũng bộc bạch: “Tôi là lớp hậu sinh, những chuyện từ thời nhà văn viết thì tôi cũng chỉ là nghe kể lại thôi, nếu anh muốn biết chính xác thì nên tìm gặp cụ Đạt, em trai nhà văn mà hỏi. Cụ Đạt ở bên xóm 9 ấy”.

Theo lời giới thiệu của ông Vịnh, chúng tôi tìm đường sang nhà cụ Trần Hữu Đạt ở xóm 9, xã Hòa Hậu. Cụ Đạt đã ngoài 80 nhưng hãy còn khỏe mạnh và minh mẫn lắm.

Cụ khẽ nhấp ngụm trà nóng và bắt đầu kể: “hầu hết nhân vật trong truyện của Nam Cao là có thật”. Câu chuyện đã mở đầu bằng một lời khẳng định như thế. “Chí Phèo đến sống ở làng Đại Hoàng từ trước cách mạng tháng Tám. Người làng không ai biết về thân thế ông ta nhưng cả làng đều gọi ông ta là Chí Phèo. Ngày ngày Chí Phèo lê la ở chợ, sống bê tha, tối về ngủ ở cái lò gạch đổ nát. Đến sau cách mạng thì không rõ là lão đi đâu  hay là chết trong nạn đói rồi”.

Ngẫm nghĩ một lát cụ Đạt kể tiếp: “Hồi đó tôi đang học thành chung ở thành phố Nam Định, chính tôi là người thường đem bản thảo của Nam Cao ra Nam Định gửi nhà dây thép (bưu điện) lên các tòa soạn ở Hà Nội. Trong chuyện Chí Phèo thì nhân vật Bá Kiến là lấy nguyên hình mẫu của một người ở làng tên là Trần Bá Bính. Ông này cũng có 3 vợ, cũng là người có thế lực trong làng.  Giờ cái nếp nhà của ông Bính này vẫn còn đấy”.

Mặc dù vẫn sống trong làng nhưng Nam Cao dám viết về những chuyện ăn hiếp dân  lành của bọn cường hào mà không sợ vì nhà văn có một chỗ dựa khiến  bọn lý dịch trong làng không dám động đến.

Cụ Đạt vẫn say sưa kể: “Sau khi truyện đăng lên báo, đám kỳ hào trong làng biết thì rất tức tối nhưng không làm gì được bởi vì hai lẽ. Một là vào lúc đó phong trào cách mạng ở vùng quê này đã khá mạnh. Hai là quan huyện Nam Sang (thời đó Đại Hoàng là xã thuộc tổng Cao Đà, phủ Lý Nhân, huyện Nam Sang) lại là bạn học thời Thành Chung với Nam Cao. Ngày ông quan huyện này mới về, đám kỳ hào làng Đại Hoàng lên huyện chào quan. Ông quan huyện biết là người ở Đại Hoàng mới hỏi là: có biết ông Tri không? (Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri) họ nói có biết. Ông quan liền bảo: thế về nhắn ông Tri hôm nào rỗi lên đây chơi, ông ấy với tôi là bạn học cũ. Thế là từ đấy đám kỳ hào cũng nể nên đỡ làm khó cho ông ấy”.

Theo lời kể của cụ Đạt tôi lại tìm đến nhà của Bá Kiến ở xóm 11. Ngôi nhà trông thấp nhỏ nằm giữa một vườn chuối. Theo lời kể của người dân xung quanh thì ngôi nhà này trước đây là của gia đình cụ Trần Bá Bính, sau lại bán cho một người khác. Người ta cũng cho biết: “Ông Bá Bính thì chết vì già yếu sau cách mạng tháng Tám còn vợ ba của ông ấy thì mãi đến những năm 1950 mới chết. Giờ con cái đều đi đâu không ai  biết cả. Ngôi nhà này vừa qua đã được tỉnh Hà Nam mua lại với giá gần 1 tỷ để làm di tích phục vụ tham quan đấy”.

Mỗi tuần một tin lạ: Lễ hội Kanamara Matsuri ở Nhật Bản

Lễ hội Thần đạo Kanamara Matsuri  (か なまら 祭り – “Lễ hội dương vật khổng lồ bằng thép”, Festival of the Steel Phallus) được tổ chức vào mỗi mùa xuân tại đền thờ Kanayama (金山 神社) ở thành phố Kawasaki, Nhật Bản.
lễ hội Kanamara ở Nhật
Lễ hội thường được tổ chức ở đền Kanayama.
Ngôi đền này được xây dựng để vinh danh đấng thần linh Sắt Thép, các vị sư chế tác sắt thép thành các mô hình dương vật khổng lồ để có thể tiêu diệt được bọn quỷ dữ chuyên quấy nhiễu ngôi đền.
Ngày chính xác của lễ hội không xác định, tuy nhiên các lễ hội chính thường rơi vào ngày chủ nhật đầu tiên của tháng Tư. Dương vật, là chủ đề trung tâm của lễ hội này, được thể hiện trong tranh ảnh, kẹo mút, củ daikon (một loại củ cải khổng lồ của Nhật Bản) được chạm khắc, vật trang trí, và một lễ rước kiệu nhỏ (mikoshi).
lễ hội Kanamara Matsuri ở Nhật
Đoàn rước kiệu trong lễ hội.
Ngoài ra còn có một huyền thoại về một con quỷ răng sắc (vagina dentata) ẩn mình trong âm đạo của một phụ nữ trẻ và đã cắn đứt (castrate) ‘của quý’ của hai thanh niên vào những đêm đám cưới của họ. Vì vậy, người phụ nữ trẻ đã đến nhờ một thợ rèn, tạo một cái dương vật sắt để phá vỡ răng của quỷ, dẫn đến việc tôn thờ chiếc dương vật sắt này.
Ngày nay, lễ hội Kanamara đã trở thành sự kiện thu hút khách du lịch và cũng được tận dụng cơ hội để gây quỹ cho nghiên cứu HIV. Rất nhiều người nước ngoài đã đến Nhật Bản vào mùa xuân tham dự lễ hội này. Bạn nào có điều kiện đi du lịch thì bố trí thăm Nhật Bản vào đầu tháng 4 để được hoà mình trong không khí lễ hội đặc biệt và giàu tính nhân văn này nhé. Các bạn có thể tìm hiểu trước quang cảnh lễ hội TẠI ĐÂY
(BBT)

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU


Nhân dịp 200 năm tập thơ Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du (1813-2013)

Trần Đông Phong

Nguyễn Du (1766 – 1820) nổi tiếng với Truyện Kiều gồm 3254 câu thơ chữ nôm. Nhưng mảng thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng đặc sắc không kém với 249 bài gồm khoảng 3000 câu, được tập hợp thành 3 cuốn là Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục.

Năm 1813 Nguyễn Du được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc làm nhiệm vụ ngoại giao. Người ta không biết nhiều về nội dung của chuyến đi này, nhưng điều đặc biệt giá trị là 131 bài thơ (có thuyết nói 132 bài do tách bài Thăng ký thành 2 bài) Nguyễn Du sáng tác trong thời gian này với các chủ đề đa dạng về lịch sử, phong cảnh, địa danh, nhân vật…, ghi lại các địa điểm trên hành trình của Nguyễn Du trên đất Trung Quốc và được tập hợp lại thành cuốn Bắc hành tạp lục, nghĩa là Ghi chép lặt vặt về chuyến đi phương Bắc. Nói là ghi chép vặt nhưng các bài thơ này rất có giá trị về văn học, nghệ thuật, lịch sử, thể hiện tài năng xuất chúng, văn chương già dặn, ngôn từ phong phú, bút lực dồi dào, hiếm có. Năm nay là 2013 vừa tròn 200 năm chuyến đi sứ Bắc này của Nguyễn Du, cũng là bối cảnh để ra đời tập thơ Bắc hành tạp lục. Nhân sự kiện này xin giới thiệu dưới đây một bài, qua đó có thể thấy phần nào phong thái thưởng ngoạn của nhà thơ.

Quân ta thời nay sang Trung Quốc nhiều học tập, công tác, làm ăn đã có lúc nào chiêm nghiệm như nhà thơ. Thời gian 2009-2010 tôi có dịp sang Quế Lâm học tiếng Trung theo chương trình 165 của Ban Tổ chức Trung ương. Lúc rảnh rỗi cùng anh, em trong đoàn lần theo các địa danh trong thơ của Nguyễn Du để mà thưởng lãm, cũng có làm mấy bài thơ in trong cuốn Cảm Diêm Thần, sẽ giới thiệu vào một dịp khác. Dưới đây là bài thơ của Nguyễn Du. Như thường lệ phần trình bày gồm: Chữ hán, Phiên âm Hán Việt, Chú thích, Dịch nghĩa.

Nguyên tác

廣濟記勝

Quảng Tế ký thắng


Giang Nam, Hồ Bắc địa tương lân, 
Nhật nhật phồn hoa bất kí xuân
。 
Ngọc địch lâu đầu thiên thượng khúc
, 
Thùy dương môn ngoại họa trung nhân
。 
Tất bồn dục điếm khuynh phì tạo
, 
Ngọc thủ hồ cơ khoái tế lân
。 
Dục điển túc sương mưu nhất túy
, 
Nại hà đầu dĩ bạch như ngân
(Nguyễn Du)

Chú thích:


- Quảng Tế: Địa danh thuộc tỉnh Hồ Bắc
- Giang Nam: Vùng đất phía nam sông Trường Giang, nổi tiếng có nhiều cảnh đẹp, đặc sản.
- Hồ Bắc: Tỉnh phía nam sông Trường Giang.
- Túc sương: Một loài chim nước, thân màu xanh, cổ dài, giống ngỗng trời, lông dùng làm áo quý. Khi mặc trong cái lạnh mùa đông phương Bắc, trong thì ấm áp mà nhẹ, ngoài thì không thấm nước, có màu xanh mướt rất đẹp.

Dịch nghĩa:


Ghi lại cảnh đẹp ở Quảng Tế

Đất Giang Nam, Hồ Bắc gần nhau.
Ngày ngày thưởng thức cảnh phồn hoa chẳng nhớ đến mùa xuân.
Trên lầu cao nghe tiếng sáo ngọc thổi khúc nhạc trên thượng giới.
Ngoài cửa có cây thùy dương đẹp như người trong tranh vẽ.
Trong nhà có bồn tắm sơn đen, nghiêng bọt xà phòng.
Người kỹ nữ có bàn tay ngọc làm món gỏi cá băm nhuyễn.
Trước cảnh đẹp này, muốn cầm cố chiếc áo quý làm bằng lông chim để chuẩn bị một cuộc say.
Tiếc thay đầu đã trắng như bạc rồi.
(Nguyễn Du)

(TĐP – 12/2013)

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

Điều trăn trở của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh

Tái cơ cấu đầu tư công là một trong ba trọng tâm của đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế đã được đề ra từ cuối năm 2012. Theo nhiều chuyên gia kinh tế, hơn một năm qua lĩnh vực đầu tư công vẫn chưa thấy có sự chuyển biến rõ rệt. Còn quan điểm của Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh về chuyện này ra sao?

TBKTSG: Thưa bộ trưởng, ông nhìn nhận thế nào về sự chuyển biến trong lĩnh vực đầu tư công vốn bị cho là dàn trải, thất thoát, lãng phí?

 - Bộ trưởng Bùi Quang Vinh : Chuyện đầu tư công dàn trải đã được nói tại Quốc hội mấy chục năm rồi. Nhu cầu các địa phương nhiều, mà phân cấp rồi nên họ cứ quyết. Đó là bình thường. Tôi ở địa phương cũng làm thế, chứ không phải lên bộ trưởng mới nói hay. Phải đọc đúng nguyên nhân mới ngăn được căn bệnh dàn trải. Vì thế, Chỉ thị 1792 ra đời đánh trúng điều đó.
Thứ nhất,
địa phương nào không có tiền mà cứ ký quyết định thì phải chịu trách nhiệm. Năm 2011, sau khi có chỉ thị, các địa phương choáng váng vì chưa bao giờ có quy định chặt như thế.Quá nhiều dự án bị phanh lại, dở dang. Vì thế, năm đó tôi phải nhận trước Quốc hội là tôi giao chậm. Nhưng chậm mà giúp thu gọn lại còn hơn nhanh mà vẫn tiếp tục dàn trải. Tuy nhiên, năm đó chưa chấn chỉnh nhiều. Sang năm 2012 tới 95,6% tổng số dự án thuộc nguồn vốn trung ương hỗ trợ cho địa phương, các bộ là đúng theo tinh thần Chỉ thị 1792; còn đến năm 2013 thì tới 99,2% được kiểm soát.
Thứ hai là nợ đọng xây dựng cơ bản thuộc trách nhiệm của trung ương. Trước đây nợ hơn 100.000 tỉ đồng, tôi đã báo cáo với Quốc hội. Sang năm 2012 còn nợ 85.000 tỉ đồng, năm 2013 còn 40.000 tỉ và tới đây chỉ còn 28.000 tỉ thôi. Tuy nhiên, có nhiều địa phương như Hà Giang còn nợ tràn lan.
Tôi chuẩn bị ký kế hoạch 2014. Tinh thần chung là ưu tiên bố trí cho những dự án nợ đọng trước, dự án hoàn thành sớm để đưa vào sử dụng, rồi mới bố trí cái khác. Nếu ai bố trí sai là tôi cắt.

TBKTSG: Đó chỉ là bước đầu thôi, vì Luật Đầu tư công vẫn còn treo bảy năm nay?

- Nếu Luật Đầu tư công được thông qua trong năm nay thì sẽ toàn diện hơn. Thí dụ, chương đầu tiên trong luật là về chủ trương đầu tư. Đây là điều rất đụng chạm. Ai là người ra chủ trương đầu tư? Toàn là lãnh đạo các cấp chứ. Ở tỉnh là chủ tịch tỉnh, hay tập thể thường vụ; trên này là các bộ trưởng.
Như Bộ trưởng Giao thông Vận tải kể, có tỉnh làm đường rộng 70 mét mà không có người đi. Vậy thì ai chủ trương cho làm? Rồi danh mục dự án rất dài mà không có ai cân đối. Đây là nguyên nhân gây dàn trải, thất thoát, lãng phí nhất. Cho nên chủ trương đầu tư mà được kiểm soát thì sẽ tạo ra hiệu quả vô cùng lớn cho đất nước.
Một vấn đề quan trọng khác trong Luật Đầu tư công là bố trí vốn đầu tư cho trung hạn, thay vì hàng năm. Trong bố trí vốn, thường năm nào chỉ biết năm đó, không biết năm sau có bao nhiêu tiền. Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư nắm toàn quyền mà không biết mình có bao nhiêu tiền cho đất nước. Các bộ trưởng lĩnh vực giao thông, xây dựng, y tế, nông nghiệp, và các chủ tịch tỉnh có quyền quyết nhiều công trình nhưng không biết năm sau có bao tiền. Thậm chí, đến Thủ tướng cũng không biết.
Tình trạng này không thể kéo dài nên phải chuyển sang làm kế hoạch trung hạn. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối từ nay đến năm 2016 có bao tiền trên nền tảng tăng trưởng dự kiến. Và tôi công bố cho các bộ, ngành và địa phương biết có ngần này tiền trong từng ấy năm. Thủ tướng ký cho cả năm năm, chứ không phải xin gì như trước đây.

TBKTSG: Điều gì giúp ông có tinh thần như thế? Kinh nghiệm ở địa phương hay ở trung ương?

- Ở địa phương đã xuất phát ý tưởng này rồi. Tôi tự thấy là vô lý hết sức. Năm nào tôi cũng phải đi xin. Khi lên trung ương, tôi càng nhìn thấy rõ sự vô lý, chả biết có bao nhiêu tiền. Một ngày tôi phải tiếp bao nhiêu ông bí thư, chủ tịch, giám đốc sở lên xin dự án này, dự án kia. Tôi thấy như vậy là bất ổn.
Thời kỳ 2008-2010 nền kinh tế bung ra kinh quá. Bây giờ có bổ sung thêm 170.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ cũng không là gì. Tôi nói thế để thấy chúng ta giải quyết một số lượng dự án kinh khủng. Nếu không có Chỉ thị 1792, không biết đất nước sẽ đi đến đâu.

TBKTSG: Ổn định kinh tế vĩ mô đã đạt được, ông có cảm thấy yên tâm?

- Kinh tế vĩ mô ổn định mới chỉ là bước đầu. Năm 2013, Chính phủ đã kiểm soát tiền tệ và giá cả tương đối tốt, nhưng tôi muốn đẩy lạm phát lên 7% kìa.
Việt Nam phải đi hai chân. Với một cơ cấu kinh tế đang phải gia công, lắp ráp nhiều thế này thì nhập siêu một chút cũng không có gì lạ. Khi cơ cấu kinh tế tốt lên, công nghiệp phụ trợ phát triển mạnh lên, chúng ta sẽ giảm được nhập siêu. Lúc đó lạm phát mới đưa về mức 3-5% như thế giới.
Còn những người bảo phải kéo lạm phát xuống 2-3% chỉ là sách vở. Đó là sai lầm. Lạm phát đang 18,13% năm 2011 mà kéo xuống còn 6,81% năm 2012 là siết quá chặt. Xe đang chạy tốc độ cao mà giảm tốc đột ngột thì sẽ bị lật. Kết quả là bao nhiêu doanh nghiệp chết. Phải hiểu sâu xa bản chất của nền kinh tế mới có quyết sách đúng đắn. Ví dụ năm tháng trước khi có Nghị quyết 13 về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tôi đã cảnh báo doanh nghiệp sẽ rất khó khăn nếu siết chặt tín dụng quá mức. Tôi cũng đã nói với Thống đốc. Tôi nói, tôi là tổng tham mưu trưởng về kinh tế, tôi phải đi hai chân, tôi không chỉ lo cho ngành tín dụng, mà phải lo cho cả doanh nghiệp và sự phát triển của đất nước nữa. Sau đó khi tín dụng được nới lỏng thì đã hơi chậm.
Thứ hai, về lạm phát chúng ta tính toán được mà. Chúng ta phải biết được lúc nào tăng giá điện, than, dịch vụ y tế. Không thể tăng ồ ạt như vậy. Thủ tướng vừa rồi ra Quyết định 1317 giao cho Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư là tổng tham mưu nền kinh tế với sự phối hợp của các bộ như thống đốc, bộ trưởng tài chính, công thương. Vì thế, việc tăng giá năm 2013 nhịp nhàng hơn.

TBKTSG: Nhìn nhận của Bộ trưởng về triển vọng kinh tế của đất nước?

 - Chính phủ mới chỉ ổn định lại được kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát, còn tăng trưởng có lên mức 7% được hay không lại là câu chuyện khác đầy thách thức. Tôi mong là các năm 2014-2015 chúng ta chuẩn bị được nền tảng cho đổi mới. Nếu không đổi mới Việt Nam sẽ khó khăn vì Chính phủ có thể kiểm soát được lạm phát, nhưng nền kinh tế không thể tăng trưởng mạnh được với cơ cấu hiện tại.


TBKTSG: Theo ông, đâu là dư địa để đổi mới?

- Còn rất nhiều dư địa để tạo ra tăng trưởng vì chúng ta đang ở mức rất thấp. Hãy cứ làm theo những gì thế giới đã làm. Điều tôi tâm đắc nhất bây giờ là phải đổi mới thể chế. Thể chế phải là thể chế kinh tế thị trường. Phải lấy thị trường điều tiết toàn bộ hoạt động kinh tế. Còn nếu chúng ta phân bổ theo chủ quan thì sai lệch rất nhiều.
Phải khẳng định kinh tế thị trường là tinh hoa của nhân loại, là thứ chúng ta phải áp dụng từ việc thị trường hóa giá cả, đến cạnh tranh thị trường. Phải mở rộng sân chơi cho doanh nghiệp tư nhân. Tư nhân không phải là con đẻ của đất nước này à? Chúng ta đã chấp nhận đa dạng hóa nền kinh tế, thì thành phần nào cũng phải bình đẳng chứ.
Nếu không tạo được môi trường tốt trong 2-3 năm tới thì tăng trưởng sẽ chỉ quanh quẩn thế này. Đây là điều tôi rất trăn trở.
(Theo TBKTSG)

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

Toledo - phố cổ bên sông

Nguyễn Triệu Hải
Trong hành trình chảy qua vùng tự trị Castille - La Mancha của Tây Ban Nha, con sông Tagus đã ngẫu hứng uốn mình bao quanh ba mặt thành phố Toledo, biến nơi đây thành một nơi thơ mộng, một phố cổ bên sông. Sở hữu trong mình nhiều nhà thờ cổ, di tích, bảo tàng, thành phố di sản văn hóa thế giới Toledo đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng, mỗi năm thu hút hàng triệu du khách đến tham quan.

Trong những câu chuyện về các hiệp khách mà tôi đã đọc qua, hình ảnh chàng hiệp sĩ La Mã đọng lại trong ký ức tôi lâu hơn cả. Mang trong lòng trái tim quả cảm và tinh thần trượng nghĩa, chàng hiệp sĩ rong ruổi đó đây, sống và chiến đấu hết mình vì công lý và tự do. Giúp chàng tăng thêm sức mạnh, làm nên những chiến công hiển hách là thanh kiếm Toledo. Những tưởng thanh kiếm báu của chàng hiệp sĩ La Mã chỉ là sản phẩm tưởng tượng của nhà văn, không ngờ nó lại có thật và quê hương của nó chính là Toledo – thủ đô của Tây Ban Nha 2000 năm trước. Tôi thích thú reo lên khi phát hiện ra điều này lúc đứng trước một cửa hàng bán kiếm trong phố cổ Toledo.
Từ trên cao nhìn xuống, cố đô Toledo trải rộng trên một triền núi. Thành quách, lâu đài khoe mình trong nắng sớm và nổi bật trong không gian cổ xưa đó là Nhà thờ lớn Toledo với hai tháp nhọn vươn cao. Toledo hùng vĩ và thơ mộng có lẽ do nằm trên triền núi cao, ba mặt được bao quanh bởi con sông Tagus. Người Tây Ban Nha xưa đã khéo khai thác cái địa hình cheo leo, hiểm trở của những vực cao thăm thẳm - nơi dòng sông Tagus chảy qua để làm thành lũy bảo vệ đế đô. Đây quả là nơi phòng thủ lý tưởng trong điều kiện chiến đấu bằng gươm đao, giáo mác, cung tên. Và quả thật, các đế chế Tây Ban Nha xưa đã giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ của mình trong nhiều thập kỷ liền nhờ vào thành trì kiên cố và hiểm trở này.
Sau 3 lần đi lên bằng cầu thang cuốn, tôi đặt chân vào thế giới cổ xưa của Toledo với thành quách, nhà cửa, lâu đài, tháp canh, cổng thành được xây dựng toàn bằng đá và gạch mộc, tuy đơn giản, thô ráp nhưng không kém phần thẩm mỹ. Thật đáng ngạc nhiên và thán phục khi đã 2000 năm trôi qua nhưng những kiến trúc nguyên thủy hầu như vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Bụi thời gian không hề làm cho những di tích lịch sử và văn hóa ở đây hoang phế mà càng tôn thêm nét cổ kính, rêu phong. Tôi đặc biệt ấn tượng với những con đường đá nhỏ, hẹp, quanh co uốn khúc, xẻ dọc cắt ngang như một mê cung. Bước chân của bao nhiêu du khách đã qua đây, làm cho con đường đá trở nên láng bóng, cho thấy Toledo ngày càng được du khách nhớ và tìm đến nhiều hơn. “Nếu có một đêm sống và đi lang thang qua các con phố ở Toledo, bạn sẽ có cảm giác mình đang được sống trong thời trung cổ”. Hướng dẫn viên bản địa nói với khách hành hương.

Tôi đến thăm Nhà thờ Santo Tome - nơi lưu giữ kiệt tác The Burial of the Count of Orgaz của họa sĩ nổi tiếng thế giới El Greco. Bức tranh khổ lớn mô tả lễ chôn cất Orgaz (một bá tước ngoan đạo đã cống hiến hết mình cho công việc từ thiện) dù được vẽ cách đây hơn 400 năm nhưng không hề xuống màu. Chất liệu vải, sơn dầu cũng như điều kiện bảo quản quá tốt đã giữ cho nhân loại và du khách một kiệt tác sống mãi với thời gian. Nhà thờ lớn Toledo ở cách đó không xa cũng là nơi đón hàng ngàn lượt du khách mỗi ngày. Đơn giản vì ở đây lưu giữ nhiều tranh tượng, công trình điêu khắc đồ sộ, những bàn thờ bằng bạc và vàng tinh xảo, quý giá mà ẩn đằng sau nó là bao nhiêu sự tích, ý nghĩa sâu xa. Do nhiều lý do mà thời gian xây dựng Nhà thờ lớn Toledo kéo dài trong 267 năm (từ năm 1226-1493) và vì vậy ở đây các kiểu kiến trúc như Baroque, Gothic, Romanesque… pha trộn vào nhau. Dầu vậy, nhà thờ lớn vẫn là một giáo đường hoàn chỉnh, không pha tạp, đáng để du khách dành nhiều thời gian để khám phá, chiêm ngưỡng.


Tôi bước vào cửa hàng bán dao, kiếm cạnh nhà thờ Santo Tome với ý định mua một thanh kiếm Toledo về làm kỷ niệm. Hướng dẫn viên địa phương giải thích rằng, thanh kiếm Toledo cùng với những chiếc khiên, mộc, mũ, áo giáp là những vật trang bị cho các kỵ binh thời trung cổ. Trong các cuộc giao tranh, thanh kiếm Toledo trong tay các kỵ sĩ đã trở thành một vũ khí lợi hại. Từ xa xưa, những người thợ lành nghề đã sử dụng những bí quyết tôi luyện riêng khiến cho thanh kiếm Toledo có một độ cứng đặc biệt và sắc bén cực kỳ. Ngày nay, kiếm Toledo được sản xuất theo lối thủ công và dù là để treo,“trưng” làm cảnh nhưng nét thẩm mỹ, độ tinh xảo và giá trị sử dụng của kiếm vẫn rất cao. Từng đường nét trên đốc kiếm được trau chuốt hoàn hảo, lưỡi kiếm sáng bóng, khi đưa lên soi theo ánh sáng khó có thể nhận thấy một chút tì vết nào.

Tôi đi một vòng trong cửa hàng. Đủ các loại trường kiếm, đoản kiếm, giáo mác, khiên… trưng đầy trên giá. Có những thanh trường kiếm dài gần 2 mét, vỏ kiếm, chuôi kiếm được chạm khắc những họa tiết tinh xảo, có cây còn nạm vàng, đá quý và giá cả lên tới cả ngàn euro. Nhưng, cũng có những cây đoản kiếm ngắn chỉ bằng con dao Thái Lan giá chỉ vài chục euro, thậm chí con dao rọc giấy có khắc chữ Toledo ở cán giá chỉ 10 euro. Tần ngần mãi, cuối cùng tôi cũng chẳng mua được thanh kiếm nào. Nghĩ đến các biện pháp kiểm tra an ninh “thô bạo” được áp dụng tại sân bay Charles de Gaulle, tôi thấy ngại nên thôi.
Cuối ngày, tôi lên xe rời Toledo về lại Madrid. Ngoái nhìn thành phố soi bóng bên dòng sông Tagus với hàng hàng lớp lớp “nền cũ lâu đài bóng tịch dương”, tôi thầm mong sẽ có dịp trở lại nơi này.
Nguyễn Triệu Hải

Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Mỗi tuần một tin lạ: Lễ hội bò tót ở Tây Ban Nha

Tây Ban Nha được biết đến là đất nước khai sinh ra cây đàn guitar, đất nước của những trận đấu bò tót và các cô gái với chiếc váy điệu đà xoay tròn trong điệu Flamenco.

Nếu có một chuyến du lịch đến Tây Ban Nha, hẳn bạn luôn muốn một lần được tận mắt xem một trận đấu bò tót đã trở thành biểu trưng cho văn hóa đất nước này. Người Tây Ban Nha không rõ nguồn gốc của đấu bò do đâu. Tuy nhiên, nhiều giả thiết cho rằng trò chơi này có mối liên hệ với nền văn hóa cổ Crete.

Hằng năm, Tây Ban Nha có khoảng 5.000 trận đấu bò diễn ra. Người tham gia các trận đấu bò được gọi là matador, phải là những đấu sĩ trải qua quá trình huấn luyện nghiêm ngặt. Họ mặc trang phục truyền thống và thực hiện các động tác di chuyển trong sân khấu với dáng vẻ rất điệu nghệ, trên tay họ là thanh kiếm và tấm vải đỏ khiêu khích con bò tót hung hãn được thả trong đấu trường.

Matador phải trình diễn các kỹ thuật vờn cùng với cây kiếm, cuối cùng phải đâm vào đỉnh đầu con bò để thể hiện nghệ thuật chinh phục sức mạnh của đấu sĩ. Xem đấu bò tót không chỉ là xem một trò chơi dân gian, mà người xem còn trải qua những giây phút thót tim bởi sự mạo hiểm của đấu sĩ. Trong suốt trận đấu còn có rất nhiều nghi lễ truyền thống mà các matador thể hiện. Đặc biệt, tiếng cổ vũ reo hò cuồng nhiệt của khán giả cũng chính là yếu tố quan trọng làm nên sức hấp dẫn của một trận đấu bò tót.

Những người ưa chuộng hội hè hẳn sẽ “chấm” Tây Ban Nha trong sổ tay những nơi cần phải đến của mình. Ở Tây Ban Nha có rất nhiều lễ hội được tổ chức quanh năm. Những người ưa thích cảm giác mạnh hẳn không thể bỏ qua Lễ hội bò tót, cho dù rất nhiều mối nguy hiểm  có thể dẫn đến mất mạng luôn  rình rập. Mời các bạn xem một đoạn băng về Lễ hội vô cùng hấp dẫn và nguy hiểm này TẠI ĐÂY
(BBT)