Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Các bà vợ của nhà văn Sao Mai

Một cuộc đời, với ba người vợ, và ba mươi đầu sách cùng những giải thưởng lớn, nhà văn Sao Mai hiện lên một chân dung độc đáo có một không hai trong làng văn Việt Nam. Ông đã ra đi và để lại những điều khó thể kể hết về những cuộc tình. Mỗi bà là một kho cổ tích về tình yêu cho một người, về một người hơn 60 năm qua. Nhân ngày mồng 8-3 sắp tới, BBT xin giới thiệu bài viết của tác giả Vương Tâm về những người phụ nữ tuyệt vời đã góp phần dựng lên tên tuổi Sao Mai. Để có được đại văn hào người Việt mang tầm quốc tế, thì cần nhiều hơn những người phụ nữ dám hi sinh như vậy.


Tôi quyết định lần mò lên mảnh đất nổi tiếng nhiều người đẹp ở Văn Luông, Tân Sơn, Phú Thọ. Và chính nơi đây còn gắn liền với câu chuyện gia đình họ Tân, do nhà văn nổi tiếng Sao Mai (ông có tên là Tân Khải Minh) lên khai hoang, sinh sống từ năm 1964. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn gắn liền với mảnh đất nhiều hoa khôi này. Mới đấy mà nửa thế kỷ đã trôi qua. Mọi sự đã đổi thay. Tôi lang thang dọc con đường dẫn vào bản Ngọc Chấu xưa, nơi có ngôi nhà lợp lá cọ rừng và thấp thoáng mái tóc bồng bềnh và nụ cười trẻ thơ của nhà văn đang cặm cụi với từng con chữ. Rồi mọi chuyện xảy ra trên đường tình của ông với bao thăng trầm, lúc sinh thời, bỗng ùa về trong tôi.

Ông lấy người vợ đầu, cô Hoàng Thị Tiếng, khi ấy mới 16 tuổi, lại rất đài các, lụa là, ở Nam Định quê ông. Nhưng thực ra ông lấy vợ lúc đó chỉ vì tức tưởi bởi cuộc tình dang dở khác, mà ông là người bị “đá”.  Sau hòa bình lập lại, từ Việt Bắc ông đem theo vợ con về Hà Nội sinh sống. Ông là một trong những văn nhân đã đứng ra thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, và được bầu vào Ban chấp hành khóa I. Nhưng rồi lối sống nay đây mai đó, lang bạt giang hồ đã làm hại ông. Tuy ông đi dạy học để kiếm sống, nhưng lại đàn đúm theo những bạn văn khác ngày đêm hút thuốc phiện. Thấy nguy cơ chồng mình bị nghiện nặng, con cái nheo nhóc, cô Tiếng vô cùng thất vọng, nhưng lại quyết tâm cứu chồng. Bằng mọi cách cô đưa chồng về Nam Định để cai nghiện và tránh xa mọi cám dỗ. May sao, nhà văn Sao Mai đã cai nghiện thực sự và còn ngoan ngoãn trở về làng làm nông dân, sau khi được hợp tác xã chia ruộng cho, theo chính sách cải cách ruộng đất năm 1956.

Nhưng rồi vốn tính lãng tử, ông không chịu được gian khổ, thấy lam lũ mà vợ con vẫn nghèo đói, nên đã tìm đường về Hà Nội dạy học và viết văn. Và thật bất ngờ, trong một lần về quê để xây dựng đội chèo làng, ông đã yêu cô Loan, một người hát hay, múa dẻo lại xinh xắn.  Hai người yêu nhau chân thành và đi đến hôn nhân. Sau khi cưới, nhà văn Sao Mai cùng cô Loan về Hà Nội kiếm kế sinh nhai. Ai dè hay tin, cô Tiếng sợ mất chồng, nên cũng ôm con lên Hà Nội ở cùng. Thế là những đứa con thi nhau ra đời. Cả thảy bảy đứa, trứng gà trứng vịt, lít nhít trong một gia đình vô cùng khốn khó.

Sau gần 8 năm đầy cam go trong cuộc mưu sinh, đến nước cùng kiệt của sự đói nghèo, ông đã kéo vợ con xung phong lên vùng kinh tế mới, ở xã Văn Luông, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, năm 1964, theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ. Từ đó ông không còn có ý nghĩ về Hà Nội nữa. Thật trời phù hộ, hai bà vợ đều là những người yêu thương ông hết mực, lo toan cho ông từng tý một, để cho chồng ôm mộng văn chương. Ông viết được nhiều ở thời kỳ này là vì thế.

Thế rồi, ông được bầu vào Ban chấp hành Hội Văn nghệ tỉnh Vĩnh Phú (bây giờ là tỉnh Phú Thọ), và ông quyết định dọn lên ở hẳn Việt Trì, nhưng vẫn để vợ con ở lại quê hương mới. Bởi khi ấy ông đã có tới 11 người con và cơ sở vật chất sinh sống đã khá giả sau 30 năm khai hoang được nhiều trang trại. Thế là lại thêm một lần các bà vợ tần tảo nuôi đàn con để ông rảnh rang “văn nghệ”. Ông đúng là thuộc típ người đi đâu vợ đấy. Cho dù đã tới tuổi 66, nhưng ông rất có duyên và chân tình với mọi người, nên chính ông lại lọt vào đôi mắt xanh của một người đẹp, tên là Lý. Khi này cô Lý, 38 tuổi mới ly hôn và nuôi con.  Ông lại “bị” yêu và chung sống với cô Lý tới 15 năm, dăm bữa nửa tháng mới về thăm hai bà vợ ở rừng. Cho đến khi ốm yếu, mắc bệnh hiểm nghèo, ở tuổi 80, nhà văn Sao Mai được hai bà vợ chính thức và các con đón về chăm sóc cho đến khi mất ở tuổi 85…

Theo người trong bản chỉ dẫn, hai bà vợ nhà văn bây giờ đã ở riêng với con cháu, chứ không cùng một mái nhà như trước đây nữa. Tôi hơi ngỡ ngàng khi đứng trước một ngôi biệt thự khá lớn cùng với vườn cây cảnh sum suê và những đàn gà chín cựa chạy nháo nhác trong sân. Đúng lúc đó, bà cả Tiếng chạy ra đón tôi vào nhà, như đã thân quen từ lâu. Bà hơn 80 tuổi nhưng vẫn nhanh nhẹn. Bà mau chuyện và dẫn tôi ra vườn xem những đàn gà chín cựa và hàng chục đõ ong trong vườn vải. Thì ra, bà và các con cháu đang có mô hình làm ăn rất thành đạt, chẳng còn đâu cái ngày phải uống nước lã cầm hơi lên nương để nuôi chồng viết văn. Tôi nghe bà say sưa tỉ tê những kỷ niệm một thời, nào là chuyện ông Lê Đạt lên nhà cùng sửa thơ để in chung với chồng bà; nào là chuyện trước đây ông Xuân Diệu mê anh chàng Sao Mai đẹp trai như thế nào: Lại còn chuyện ông Tô Hoài, ông Vân Long; nhà văn trẻ Văn Chinh nữa… nghĩa là chuyện cứ ríu rít và hiển hiện như mới đây thôi. Bà cười rất hồn nhiên mỗi khi nhớ lại chi tiết nào đó làm tôi vui lây với bao hồi ức như bộ phim quay lại trước mắt.

Nhưng thật không ngờ bà thừ mặt khi tôi hỏi đến ngôi nhà cũ và cái “Vọng Ngư lầu”, mà bà đã dựng cho ông ngồi viết và tiếp bạn văn một thời. Bà rủ rỉ nói, nơi đó cô em bà đang ở; ý nói bà hai hiện đang trông nom ngôi nhà cũ cùng với con trai, tận xóm trong cơ. Thế là tôi bách bộ sang nhà bà hai; là nơi cả hai bà trước đây đã từng sống mấy chục năm với nhau, cùng chăm lo cho nhà văn Sao Mai.

Con đường đất vẫn còn bùn đọng ướt trơn vì cơn mưa rừng từ hôm trước. Và đó, trước mắt tôi ngôi nhà mái lá “lịch sử” văn học của gia đình Sao Mai không còn giữ được nguyên vẹn. Anh Tân Khải Hồng, con trai cả của bà hiện là Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Văn Luông đưa tôi lên ngôi nhà hai tầng độ vài chục mét vuông. Anh cho biết, từ ngày các con cháu lớn phải xây nơi ở mới, chứ ngôi nhà mái lá cũ mục nát không thể ở được nữa, hiện giữ để làm kho chứa đồ. Bà hai có vẻ rụt rè khi tôi hỏi thăm về “Vọng Ngư lầu”, vì sao bị mất. Dẫn tôi tới bờ vực của ao cá ngày nào, rồi bà nhẹ nhàng nhắc lại những ngày tháng trông nom nhà văn mấy năm trời ốm đau, cái “Vọng Ngư lầu” tự nhiên sập đổ, bà biết mệnh của chồng mình đã hết, cho dù bà đã chạy chữa hết lòng. Mảnh đất rêu phong ghi dấu ký ức kham khổ một thuở; bà nấu cháo cám cho chồng, pha trà cho chồng và hầu quạt cho chồng, mỗi đêm muỗi hàng đàn vo ve khắp nhà.

Gương mặt bà Loan sáng sủa, vẫn còn đọng lại nét mỏng mày hay hạt và nụ cười chúm chím một thuở làm say lòng nhà văn Sao Mai. Giờ đây bà cũng đã tới tuổi 80. Mỗi lần có bạn văn của chồng lên thăm, bà như trẻ lại, nhưng vẫn rụt rè và lẫn lộn những ký ức. Bà chợt nhớ chợt quên. Bà ít nói, vẻ mặt buồn man mác… Tôi chia tay Chiềng Luông trong ánh mắt buồn của bà Loan. Hay chăng còn những điều gì chưa gợi nhớ cho bà, muốn tâm sự mà không không thể cất lời. Một khoảng trống trong ký ức của người già. Tôi nghĩ mông lung và bất chợt nhớ tới bà vợ ba của nhà văn Sao Mai, hiện vẫn ở Việt Trì. Như có sự thôi thúc trong con tim, tôi muốn đi tìm khoảng trống hụt hẫng của kỷ niệm trong suốt 15 năm, mà cả hai bà đều không hề muốn nhắc đến.

Tôi lần mò hỏi mãi rồi cũng gặp được bà Lê Thị Hải Lý, nhưng lại ở một căn nhà đẹp, ba tầng ở ngay mặt phố Liên Phương. Bà Lý không hề vui khi mọi người nói bà là vợ ba của nhà văn Sao Mai, cho dù hai người sống với nhau tới 15 năm. Bà giải thích với tôi rằng, do mến mộ tài năng mà bà quan tâm tới nhà văn. Hơn nữa, hồi đầu thập niên 90 dù nhà văn Sao Mai mang danh thủ trưởng cơ quan Hội Văn nghệ Phú Thọ, nhưng lại quá nghèo, nên bà mới mời về nhà để tiện bề chăm sóc. Bà trở thành “thư ký” cho nhà văn, cho dù kém ông đến 30 tuổi, cũng chấp nhận.

Giờ bà Lý đã bước sang tuổi 60, nhưng bà khá trẻ, và vẫn còn nét duyên với nụ cười có cái răng khểnh. Tôi gợi ý về những kỷ niệm với nhà văn Sao Mai, như trúng mạch ký ức đến bao la của bà Lý. Tôi ghi chép không kịp với nhịp kể chuyện sôi nổi của bà. Nói rồi bà lôi ra một cuốn album lưu rất nhiều ảnh nhà văn Sao Mai. Mỗi ảnh bà lại kể một điều gì đó. Nhất là khi nhớ lại những kỷ niệm vể một thời ở Trường Sơn, hồi tham gia quân đội của bà, thì đôi mắt ấy rưng rưng, nụ cười ấy tươi rói, dáng vóc ấy thanh tú. Cô gái Trường Sơn năm nào hiện lên trước mắt tôi khi bà bỗng đứng lên đọc câu thơ mở đầu cho bài phát biểu mới nhất ở một Lễ hội cựu chiến binh Phú Thọ, năm 2012. Giọng bà trong và ngân vang: “Vào bộ đội năm ấy tuổi trăng tròn/ Em chưa được làm duyên thời con gái/ Mái tóc dài đi theo dải Trường Sơn/ Cũng ba lô, cũng một khẩu súng trường/ Và em bước trên con đường cách mạng”. Tôi nghe và nghĩ cái nét duyên ấy hồi còn trẻ đã giăng lưới bắt giữ nhà văn Sao Mai cũng chả trách được. Có lẽ hai bà ở trại chè Tân Sơn cũng chia sẻ, bởi hồn vía của chồng mình đã bị bỏ bùa mê, thuốc lú mất rồi…

Mọi ký ức đã trôi qua nhưng luôn tồn tại với vẻ đẹp huyền ảo như từng chuyện cổ tích vậy. Ba bà vợ của nhà văn Sao Mai, mỗi người đều có những u uẩn của riêng mình, không dễ có thể chia sẻ hết cùng ai. Những giận hờn đã nhạt phai theo thời gian, nhưng niềm vui và những kỷ niệm đẹp thì mãi mãi diệu kỳ. Tôi ước muốn sẽ có một ngôi nhà lưu niệm của nhà văn Sao Mai, mà ba bà chung tay cùng dựng xây, như cái thời gian khó xưa, với bát cháo cám nóng hổi cùng mọi ngọt bùi thơm thảo của tấm lòng những người vợ. Cả ba người đều tràn ngập những nỗi niềm, mà tôi muốn cảm thông. Họ đầy những ký ức muốn gửi trao cho những ai yêu văn chương Sao Mai.
(Vương Tâm - ANTG. Ảnh BBT sưu tầm)

Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2014

Tác giả bài thơ nổi tiếng về ngày 8-3

Nguyễn Thanh Bình
Có một bài thơ mà lâu nay, mỗi dịp 8/3 đến vẫn nhiều người nhắc: “Hôm nay mùng 8 tháng 3/ Tôi giặt hộ bà cái áo của tôi/ Tôi phần bà một đĩa xôi/ Sợ bà xấu bụng, tôi xơi hộ bà!”. Và khởi đầu từ bài thơ này, đến nay dễ đã có tới hàng trăm dị bản khác nhau. Nhưng, ai là tác giả của bài thơ?
 Trong ý nghĩ của nhiều người, đó là ca dao của một tác giả… khuyết danh nào đó. Và vì thế, bài thơ được “truyền miệng” (và bây giờ được “truyền mạng” – qua Yahoo!Messenger) với những cách đọc khác nhau, nhiều khi cách xa văn bản gốc.
Tuy nhiên, tác giả của bài thơ gốc chưa một lần phàn nàn về việc người ta đọc sai thơ ông, hay lên tiếng “cảnh cáo” sự vi phạm tác quyền với bài thơ này. Bởi ông là “ông đồ Tú Sót” – một thành viên chủ chốt của nhóm Cảo thơm thư hiên (Văn chương vỉa hè) - nhiều năm trước thường “bày mực tàu giấy đỏ” mỗi dịp Tết đến Xuân về ở sát cổng trụ sở T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trên phố Bà Triệu (Hà Nội).

 Tú Sót tên thật là Chu Thành, sinh năm Canh Ngọ (1930), quê ở Diễn Tường, Diễn Châu, Nghệ An. Đây là một vùng quê “có tiếng” về nói trạng của xứ Nghệ. Chu Thành là con út trong gia đình, ngay từ khi lên 6, 7 tuổi đã được tiếp xúc với chữ nho, rồi được học chữ quốc ngữ.

 Theo nhà thơ Hoàng Tiến – một người bạn thân của Tú Sót, từng về làng Diễn Tường – thì “Dòng họ tác giả cũng là một dòng học vấn. Cố nội nhà thơ hiệu Phi Bảng, thi đậu tam trường, thông đạo nho, đạo thuốc. Ông bên ngoại là Chu Biền, thường gọi là cụ Hiệu Biền, người Cẩm Bào”.

 Lớn lên, Chu Thành vào bộ đội chống Pháp. Khi Thủ đô hoàn toàn giải phóng, ông về làm cán bộ ở Nhà xuất bản Thanh Niên đến lúc nghỉ hưu (1989).

 Cũng bắt đầu từ khi “cầm sổ hưu”, Chu Thành – Tú Sót mới chính thức bắt đầu cầm bút lông, và học thêm ở các bậc túc nho đi trước như cụ Lê Xuân Hòa rồi gắn những năm cuối đời của mình với nhóm “Cảo thơm thư hiên” ở góc phố Bà Triệu. Ông đã mãi mãi trở thành “người muôn năm cũ” từ mùa xuân 2006.

 Cuộc đời Chu Thành - Tú Sót có nhiều chuyện đáng nói, ông là người có nhiều khát vọng ấp ủ và thể hiện. Bốn câu thơ: “Hôm nay mùng 8 tháng 3/ Tôi giặt hộ bà cái áo của tôi/ Tôi phần bà một đĩa xôi/ Sợ bà xấu bụng, tôi xơi hộ bà!” nằm trong bài “8-3 muôn năm” được Tú Sót viết vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Và sau đó, nó đã được in trong tập thơ trào phúng đầu tay của tác giả Tú Sót, có tựa đề “Gà trống đẻ”.

 Trong cuốn sách này, bài “8-3 muôn năm”  nằm ở trang 40 với tranh minh họa của Văn Cao (trang 41), phía dưới “tít” bài, tác giả ghi: (Tặng C.T.H), và dòng cuối cùng – nếu ở những bài khác Tú Sót thường ghi về địa điểm và thời gian sáng tác, thì bài này ông ghi: NM-TLTL. (Ở một vài bài khác trong tập, như bài “Bò kéo xe xe kéo bò” cuối bài ông ghi: KTT.TLTL, hoặc nhiều bài khác ông ghi “Thượng Đình,…” .

 Như vậy, theo suy đoán của người viết, bài thơ “8-3 muôn năm” được Tú Sót viết tại khu tập thể Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, hay có thể khẳng định, ông viết bài thơ này tại Hà Nội).

 Với vóc người thấp đậm, Tú Sót luôn tiềm ẩn chất trào lộng bên trong. Ông làm thơ về mọi chuyện, mọi vật diễn ra quanh mình. Khi thì ông “Nghĩ về thơ”: “Thơ ta chưa cảm được lòng người/ Vì ta chưa trọn nghĩa đời đó thôi/ Sống làm lửa nóng mặt trời/ Thác làm than sưởi cho đời ấm thêm!”. Lúc ông châm chọc: “Trong thơ có thể “leo thang”/ Làng thơ có kẻ ăn gian ghế ngồi/ Thơ làm khỉ đọc chê hôi/ Vênh vênh váo váo rậm lời ba hoa (…)/ Trăm năm trong cõi ngày nay/ Nhà thơ cũng biết học vày buôn thơ…” (Thơ leo thang).

 Thậm chí, trào lộng-giễu nhại chính bản thân mình: “Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến đã về trời/ Xuân Hương, Thị Điểm Phật Bà nuôi/ Bầu rượu, túi thơ chưa khuân hết/ Sót lại cho ta trả nợ đời/ Tú Xương, Tú Mỡ đã lên tiên/ Bỏ ta Sót lại để tiêu tiền/ Hay để cầm mai trừ cỏ dại/ Cho vườn hoa ngát khí thiên nhiên…”.

 Tập thơ gồm nhiều bài thơ ở các thể loại: tứ tuyệt, lục bát, thất ngôn, ngụ ngôn, thơ đố… Khi viết những bài thơ này, hình như mong ước lớn nhất của ông là đem tiếng cười vui đến cho mọi người.

 Và mỗi năm, cứ đến ngày mùng 8 tháng 3, câu thơ “Hôm nay mùng 8 tháng 3…” của ông mà nhiều người cứ ngỡ là ca dao hay hò vè của một tác giả khuyết danh nào đó lại vang lên, như là một “món quà vui” Tú Sót đã gửi tới tất cả những người đàn ông, những người phụ nữ.

 Tác giả bài thơ đã thành “người muôn năm cũ”, song mấy câu thơ của Tú Sót vẫn sống với nhân gian, và ngày lại sinh sôi với hàng trăm dị bản.

 Sinh thời, nhà thơ Trịnh Thanh Sơn có kể một câu chuyện: “Có một năm, đúng ngày mùng 8 tháng 3, tôi đi uống rượu với bạn bè đến khuya mới về. Vợ tôi làm cơm, có nhiều món ăn ngon, ngồi đợi.

 Thấy tôi về, đã muộn lại còn say lướt khướt, vợ tôi tỏ ý không vui, mặt cứ nặng như... tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phục(!). Tôi liền đứng giữa nhà, và đọc oang oang một bài thơ của Tú Sót, không hiểu sao lại nhập tâm: “Hôm nay mùng 8 tháng 3/ Tôi giặt hộ bà cái áo của tôi/ Tôi phần bà một đĩa xôi/ Sợ bà xấu bụng, tôi xơi hộ bà!”.

 Vợ tôi nghe xong bài thơ, cười ngặt nghẽo. Hú vía! Cảm ơn, cảm ơn Tú Sót vô cùng! Tú Sót thân mến ơi, anh đã cứu tôi một bàn thua trông thấy!”.


Những người không biết vị trí mình ở đâu

Xã tôi là một xã nghèo vùng sâu vùng xa hẻo lánh, vốn yên bình, nhưng hết lòng vì công việc. Ủy ban xã đã tập trung mọi nỗ lực để phát triển hợp tác kinh tế, như tạo điều kiện để ông già trưởng bản lên thăm tỉnh, mời các chuyên gia nông nghiệp cao cấp trên tỉnh về xã giúp bà con phát triển nông nghiệp, ký thỏa thuận hợp tác kinh tế và thương mại với các xã lân cận,… và rất nhiều việc khác. Ủy ban xã và bà con đang nhiệt tình làm việc thì đột nhiên bị dội một gáo nước lạnh và gặp phải một số tai ương gây khó khăn và quấy rối ủy ban và các công việc xã đang triển khai.


Đầu tiên là chị Đao. Chị còn độc thân, mới ra trường, trước đã công tác được khoảng hai năm ở phòng hợp tác quốc tế trên huyện, nghe đâu biết tiếng Tây. Xã xin chị về để giúp ủy ban khâu hợp tác quốc tế. Ủy ban xã rất quan tâm đến chị, chị đòi ở nhà rộng 180 m2 nhưng xã không có và đã thuê cho chị nhà ở cách trụ sở ủy ban khoảng một cây số, chị rất thích và nói với ủy ban rằng chị xin đi bộ đi làm. Xã đã sắm sửa mới đầy đủ tiện nghi, trang thiết bị cho chị. Chị đón ngay cô em gái lên ở cùng để học đại học và thế là chị suốt ngày tập trung đầu óc cho cô em, chả quan tâm đến công việc gì cả. Chị đòi xã trang bị thêm cho chị loại điều hòa loại tốt, cả loại điều hòa di động loại mới ra đắt tiền, rồi đòi lắp internet tại nhà ở mà chủ yếu là để phục vụ cho cô em học đại học. Công việc chị bỏ trễ. Ông Chủ tịch xã khi gặp đối tác nước ngoài, ủy ban xã gọi chị đến để dịch thì chị mà cả Chủ tịch phải đáp ứng các yêu cầu và các đòi hỏi sắm sửa của chị. Mà thực ra mấy lần có hoạt động, xã mời chị dịch thì chị có dịch được đâu. Các hoạt động hợp tác quốc tế chị đều không để ý tới, cứ như người trên trời mới rơi xuống, gần như không có chút nhạy cảm gì cả trong công việc. Khi ủy ban giao việc cho chị sẽ thấy ngay đặc tính nổi bật của chị là lười và ỷ lại, chị thuộc tuýp người ủy ban xã phải ´´dắt tay chỉ việc´´. Gần đây chị lại đòi xã phải cho xe đưa đón chị hàng ngày đi làm và đi chợ, nếu xã không có xe thì cho taxi đưa đón chị. Lương chị nhận thì chị cất đi không dám tiêu, chỉ thích xã chi phí cho chị. Khi xin chị về xã công tác, xã tôi hy vọng và mong đợi bao nhiêu thị giờ đây xã thất vọng về chị bấy nhiêu. Ôi chị Đao, con người còn trẻ mà đã ích kỷ cá nhân thế, chắc là xã tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được chị đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng.
 Tiếp theo phải kể đến là anh Cống, phó trường phòng hợp tác quốc tế trên huyện, nơi chị Đao công tác trước đây. Anh Cống được phân công phụ trách 7 xã địa bàn trong đó có xã tôi nơi mà trước đây anh đã công tác. Mọi thứ ở xã tôi giờ đã thay đổi khác hẳn thời anh ở đó, nhưng anh vẫn chỉ đạo xã tôi theo suy nghĩ và tư duy cũ của anh, chả phù hợp ti nào cả. Anh lúc nào cũng muốn tỏ ra ta đây là người rất quan trọng, từ việc nhỏ, anh xé ra to, hồ đồ hấp tấp đánh giá, báo cáo lãnh đạo huyện và lãnh đạo tỉnh. Anh có tài chụp mũ người khác, nhưng lại tỏ ra rất hiền lành. Đối với xã tôi, anh nghe ngóng những thông tin không chính xác, không chính thống rồi kết luận và bẩm báo, chụp mũ. Anh cũng là người làm việc không đàng hoàng. Với xã tôi anh chỉ liên hệ và nghe chị Đao, mà không liên hệ với ủy ban xã, Chủ tịch xã, mặc dù xã có địa chỉ và văn phòng đàng hoàng hẳn hoi, thậm chí anh chỉ giới thiệu cho các cán bộ và các đoàn đến xã công tác địa chỉ của chị Đao chứ không giới thiệu địạ chỉ liên hệ của ủy ban xã. Anh chỉ thích quan hệ một chiều, xã phải cống nạp, bẩm báo anh nếu không anh chụp mũ là xã không phối hợp. Còn anh thì chả bao giờ hỗ trợ, phối hợp với ủy ban xã cả. Ôi anh Cống, làm cán bộ như anh thì bao giờ mới giúp và hỗ trợ cho xã tôi, hay là anh hay làm chúng tôi thêm buồn, mất nhiệt tình và ngạc nhiên. Đấy là chưa kể đến việc khi ông Chủ tịch xã hiện nay đã được trên điều động và ra quyết định về làm chủ tịch xã, anh Cống còn bí mật gặp ông chủ tịch để dàn xếp và nói là ông đừng đi. Biết chuyện bạn ông chủ tịch đã mắng anh Cống. Có lẽ nên tránh loại người như anh Cống, rất phức tạp, nguy hiểm và xỏ lá.
Người thứ ba đang gây ra nhiều cản trở cho các công việc của xã là anh Tham. Anh Tham là người của tỉnh bạn biệt phái đến xã làm công tác buôn bán các sản phẩm của bà con xã tôi. Tôi cứ tự thắc mắc rằng ở đây có gì mà buôn bán cơ chứ. Từ khi anh đến đây, anh chưa làm được việc gì cho xã cả, mà trái lại anh gây nhiều khó khăn và nỗi buồn cho xã. Anh suốt ngày đơn, thư đòi xã phải chu cấp, trang bị cho phòng làm việc và nhà ở của anh các thứ mà ngang như tiêu chuẩn của Thứ trưởng. Anh ngày nào cũng đe dọa nếu xã không đáp ứng những đòi hỏi của anh thì anh sẽ điện báo về tỉnh, mà anh đã làm thật. Một con người không có tình nghĩa, đã bán rẻ linh hồn cho quỷ dữ. Xã đã đáp ứng trang bị, lắp đặt cho anh theo đòi hỏi của anh cả phòng làm việc và nhà ở đều trang bị và lắp đạt như nhau. Anh vẫn chưa hài lòng. Được voi đòi tiên, anh lại vừa đòi xã phải cho xe đưa đón anh hàng ngày  đi làm và hàng tuần đưa đón anh đi chợ, các chợ bán buôn rau quả, chợ bán buôn thịt và chợ bán buôn hải sản mà anh nói với xã là các ´´chợ trung tâm´´ để anh mua cho rẻ. Anh nói nếu không cho xe đi chợ thì xã phải thanh toán cho anh tiền taxi cho việc đi chợ. Thật đúng là anh Tham. Không biết anh lại sẽ đòi hỏi những gì tiếp theo đây. Hồi anh Tham mới đến xã, anh đã đòi xã thuê nhà cho anh. Xã đã thuê ngay nhà cho anh cách trụ sở xã khoảng 1 cây số và anh nói anh đi bộ đi làm. Nhưng nay anh đổi giọng, đòi xã phải cho xe đưa đón anh hàng ngày và anh phóng đại lên là nhà ở cách trụ sở ủy ban 3 cây số. Anh đã đưa vợ và hai con đến ở nhà xã thuê cho anh và để phục vụ vợ con anh, anh lại đòi trang bị và lắp đặt nhiều thứ lắm, nhiều thư tôi cảm thấy tiêu chuẩn gì mà cao thế, như cấp Thứ trưởng vậy, nhưng thực ra anh đòi hỏi như thế là để phục vụ vợ con anh thôi, chứ không phải vì công việc gì cả. Anh cũng là người nhận lương xong thì cất kỹ không dám tiêu, mà chỉ thích xã chi phí cho anh. Ôi anh Tham, xã tôi và đất nước tôi có bao nhiêu voi và tiên mà anh cứ đòi mãi thế.
Thật buồn và không may xã tôi vớ ngay phải chị Đao, anh Cống và anh Tham, những người còn trẻ mà đã ích kỷ cá nhân, lại tham lam thế và không biết vị trí của mình đang ở đâu.

Bài thứ ba về Thơ Haiku Nhật Bản: Kỹ nữ và trăng

Trần Đông Phong

Tác giả: Matsuo Bashō , 松尾 芭蕉, Tùng Vĩ Ba Tiêu (1644 - 1694): Thiền sư, nhà thơ người Nhật Bản.

Nguyên tác:

一家に遊女もねたり萩と月

一家に
遊女もねたり
萩と月

Phiên âm :

Hitotsu-ya ni
Yujo ino netari
Hagi to tsuki

Chữ Hán:

nhất: một
gia: nhà
du: đi xa
nữ: nữ
thu: một loại thực vật thân mềm, cỏ ba lá, đinh hương (clover), đậu mắt ngựa (lespedeza).
nguyệt: trăng

Chú thích:
-遊女: âm Hán là du nữ, nghĩa là kỹ nữ, gái điếm, các bản tiếng Anh đều dùng các từ chỉ gái điếm như courtezan, harlot, prostitute.
-: âm Hán là thu, một loại thực vật thân mềm, hoa tím hồng, mọc ven đường. Tiếng Anh có bản dùng là clover: đinh hương, cỏ ba lá, có bản dùng là lespedeza: đậu mắt ngựa.

Dịch thơ:

Đêm khuya cùng một nhà
Với kỹ nữ ai hay chuyện đời
Trăng soi bóng cỏ thu.
(TĐP dịch)

Bản dịch tiếng Anh:

Version 1: Staying the night with harlots lying in the same inn,
Under the moonlight shedding on lespedeza blossoms.

Version 2:  Under the same roof,
It happened that a poor poet spent a night with unfortunate women,
When the moon was shining on the dewy blossoms of the clover.

          Bài thơ này gợi người ta nghĩ đến mệnh đề triết học sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập của Thuyết duy vật biện chứng hay Thuyết tương sinh tương khắc của triết học cổ Trung Quốc khi tạo ra tình huống nhạy cảm khi tác giả, một thiền sư cao đạo qua đêm cùng nhà với cô kỹ nữ phóng khoáng, dưới ánh trăng chiếu trên đám cỏ đinh hương.
TĐP