Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Thiên di (Câu chuyện của tôi - NXH)

Cuộc sống có nhiều biến đổi, trong đó chuyển đổi công việc, nơi sinh sống được cho là chuyển đổi rất lớn. Ngày xưa, gọi là “thiên di” cũng không sai.
Năm 1996, tôi đang ở Nhà máy thủy tinh Hải Phòng, làm Phó quản đốc Phân xưởng Thủy tinh, so với các cán bộ cấp phòng ban, phân xưởng, thì tôi thuộc loại trẻ nhất. Tuy nhiên, cũng được Giám đốc liệt vào loại ngang bướng nhất. Xem chiều hướng phát triển của nhà máy, tôi tiên đoán nó đang đi vào ngõ cụt, tắc tị, và chắc chắn sẽ đổ vỡ. Một trung tâm sản xuất thủy tinh lớn nhất nước, nhưng cuối cùng chỉ chăm chăm làm cái chai đựng rượu, bằng loại máy và công nghệ năm 1956 của CHDC Đức. Giám đốc Nhà máy có khoa nói ba hoa, nhưng chỉ dứt thiết bị ra bán sắt vụn, không chịu cải tạo cơ bản nhà máy. Đội ngũ công nhân tay nghề cao dần dần về hưu và mất dần. Tôi đã gặp Giám đốc, đề nghị quay lại sản xuất kính xây dựng và thủy tinh dân dụng, đó là những thế mạnh quá khứ của nhà máy. Tuy nhiên, giám đốc cười khẩy. 

Trong thời gian đó, một đối tác Phipippin đến và muốn liên doanh với nhà máy cũng để làm chai thủy tinh. Họ đã nhìn hệ thống lò của Nhà máy với con mắt ngạc nhiên thú vị. Thử tính thế này: Khi đó, một lò của nhà máy thủy tinh công suất 20 tấn/ ngày, khi sản xuất 2 lò thì 40 tấn/ngày, với hơn 200 công nhân, tôi làm Phó quản đốc. Phục vụ cho lò thủy tinh này, trái tim nhà máy, là phân xưởng cơ khí-điện, phân xưởng nguyên liệu, phân xưởng nhiên liệu (khí hóa than). Đối tác đã “trình bày” một nhà máy có lò công suất 120 tấn/ngày (gấp 6 lần lò cũ) mà số người vận hành toàn bộ khoảng 40 người (bằng 1/10 nhà máy hiện tại), công nghệ của Tư bản Tây Ban Nha đang giãy chết.
Nhìn quanh Hải Phòng, tại Nhà máy Nhựa Thiếu niên Tiền phong, ông Chất giám đốc Nhà máy đã xoay chuyển tình hình nhà máy, chuyển từ việc làm mấy cái dép nhựa, sang làm ống nước, và đưa nhà máy tiến vượt bậc. Song, nhà máy Thủy tinh lại không có giám đốc trẻ như ông Chất, mà có một ông giám đốc còn mấy năm nữa về hưu, ba hoa thì tài, nhưng không dám làm gì cả. Quây quanh giám đốc như vậy là một đội ngũ nịnh thần rất giỏi…
Tôi thấy tình hình như vậy, và muốn tìm một chân trời khác. Tôi nghĩ, coi như về Hải Phòng đã lỡ, và sai lầm rồi. Nếu cứ ở Hải Phòng, dù có làm đến Giám đốc nhà máy cũng chả làm gì, có thể kiếm được thêm nhiều tiền hơn, nhưng rồi con cái khi đi học đại học ở Hà Nội, cũng chỉ đủ mua một cái nhà cho các con là hết. Giờ phải hy sinh đời bố, củng cố đời con vậy. Nghĩ thế, tôi quyết tâm chuyển đi Hà Nội.
Khi đó, Bộ Công nghiệp nhẹ có chủ trương đào tạo quy chuẩn cán bộ. Bộ gửi công văn cho các nhà máy, bắt buộc phải cử cán bộ cấp Phòng ban, Phân xưởng dưới 40 tuổi đi học đại học kinh tế, học tập trung chương trình 24 tháng bằng thứ 2 ở Trường Đại học kinh tế Quốc dân. Nhà máy Thủy tinh họp lãnh đạo, cử người đi học, nhưng danh sách 2 người đi học không có tôi. Vì tôi không được giám đốc coi là nguồn đào tạo kế cận. Trong khi đó, những người được cử đi học thì đều tìm lý do để trốn. Đang có tí chức, đi học 2 năm là có người thay thế, học xong biết có chỗ nào ok hơn không, nên ai cũng không muốn đi học. Đi học là mất ghế, mất nguồn lương nuôi vợ con. Trong khi đó, tôi nhìn thấy đây là cơ hội đi học và tiếp tục chuyển đi. Tôi lên lãnh đạo nhà máy xin đi học, thì được cái lắc đầu, dĩ nhiên có lý do là tôi đang ở vị trí rất quan trọng, lãnh đạo phân xưởng chính.
Tôi nói chuyện với Trần Hồng Kỳ, ông Kỳ bèn ra tay, nói gì đó với một ông ở Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Công nghiệp nhẹ. Ông này bèn alo xuống nhà máy. Nếu nhà máy báo cáo không có ai đi học là sai, mà lại có tôi đang sẵn sàng đi. Thế là lãnh đạo nhà máy gọi tôi lên, ok cho đi học.
Coi như chuyện đi học là xong, ông Trần Hồng Kỳ chỉ nói một câu mà tôi biến thành học viên đi học đào tạo nguồn cán bộ cho nhà máy. Tôi đã phải học hành chăm chỉ, ở nội trú cùng với hơn 1 chục người, học xong chương trình đại học kinh tế trong 18 tháng, còn 6 tháng làm đồ án. Đến khi học xong rồi, thì chuyện làm thế nào ở lại Hà Nội lại đặt ra. Ở nhà máy, người ta đã dọn 1 chỗ cho tôi làm Trưởng phòng Thí nghiệm ở Nhà máy Liên doanh, lương khi đó cũng rất khá. Hoặc là trở về tiếp tục làm Phó quản đốc, rồi nhanh chóng thay thế chân các bác về hưu hàng loạt. Giám đốc ký quyết định cho tôi đi học, cũng sắp về hưu.
Thời kỳ đó, xảy ra chuyện thi vào báo Đầu tư, thế là tôi ở lại tạm làm báo… (chuyện này tôi đã kể rồi)
Khi chuyển gia đình lên Hà Nội, thật là một thời kỳ gian nan. Con cái nhỏ, xin học cũng gian khổ. Bán nhà to ở Hải Phòng xong, mua được chỉ một mảnh đất. Toàn bộ 11.000 USD xây nhà là do bạn bè cho mượn. Ghi chú, số tiền này tôi đã trả hết khoảng 5-6 năm sau, nhưng còn khoản 800 USD của ông Kỳ thì vẫn được cầm để lấy lộc. Nếu ông Trần Hồng Kỳ thiên di, tôi sẽ trả nhân dịp đó.
Kết quả: Cho đến nay, toàn bộ nhà máy cũ của tôi đã ngừng, công nhân thủy tinh Hải Phòng coi như hết, chỉ còn bộ phận liên doanh vẫn túc tắc làm việc. Các bạn học bằng 2 kinh tế với tôi, gần đây đã khá nhiều người làm to, Tổng giám đốc (Công ty Bia rượu nước giải khát, công ty Giấy… vân vân), nhưng tôi thì số trời, chuyển khỏi ngành kỹ thuật, lang bang trong một lĩnh vực gọi là văn chương nghệ thuật. Đôi khi, có người (như tôi) không may mắn được làm 1 việc trong cuộc đời, mà bắt buộc phải chuyển nghề, chuyển nơi sinh sống. Người tính không bằng trời tính là như vậy. Tuy nhiên, vào thời kỳ nhìn thấy những ngày về hưu, tôi lại mỉm cười và tự cho rằng mình đã may mắn. Một nguyên nhân là có bạn bè giúp đỡ, một nguyên nhân nữa là máu thiên di sẵn có trong mình, không an phận thủ thường, quyết tìm con đường tự do cho riêng mình…

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Vài mẩu chuyện về đời tư cố Thủ tướng Phạm văn Đồng

Làm việc cùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ năm 19 tuổi, đến khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua đời vào năm 2000, nhà thơ Việt Phương (bố Trần Quang Huy, Phó TGĐ Ngân hàng Nhà Đồng bằng sống cửu Long, có thời gian dài là đồng nghiệp của tôi ở Vụ Quản lý dự án đầu tư nước ngoài) đã có 53 năm làm thư ký. Trong 53 năm ấy, có nhiều câu chuyện về Thủ tướng mà nhà thơ Việt Phương luôn nguyện mang theo suốt cuộc đời. Ở tuổi ngoài 80, khi nhắc về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Việt Phương luôn khẳng định một điều: “Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một nhân cách lớn, là một người đã dạy cho tôi rất nhiều điều về cách làm người”. BlogE xin giới thiệu một vài mẩu chuyện mà bác Việt Phương kể lại.

Tình yêu với người vợ bệnh tật
Nhà thơ Việt Phương kể: “Tôi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng lần đầu vào năm 1947, khi đó tôi 19 tuổi còn đồng chí Phạm Văn Đồng là đặc phái viên của Chính phủ miền Nam Trung Bộ. Năm đó, tôi được đơn vị cử đi dự Đại hội Thanh niên Cứu quốc ở Nam Trung Bộ và được gặp đồng chí Phạm Văn Đồng ở đó”.
Từ thời trẻ, nhà thơ Việt Phương đã có thói quen không bao giờ chuẩn bị bài phát biểu trước ở nhà mà toàn phát biểu “vo” nên trong hội nghị đó, khi biết thói quen của Việt Phương, đồng chí Phạm Văn Đồng rất ngạc nhiên và “kiểm tra” khả năng diễn thuyết của Việt Phương. Phần vì ấn tượng bởi khả năng ăn nói của một người thanh niên mới 19 tuổi, lại biết Việt Phương tốt nghiệp trường Bưởi, nói - viết thành thạo tiếng Pháp và tiếng Anh, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đề nghị Việt Phương về làm thư ký cho mình từ năm 1947. Kể từ đó cho đến ngày Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua đời vào năm 2000, dù ở trên cương vị nào, từ Phó Thủ tướng đến Thủ tướng và sau này là Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng luôn tin tưởng giao việc cho Việt Phương với vai trò của một người thư ký giúp việc đắc lực cho mình.
Sẽ không ngoa khi nói rằng, nhà thơ việt Phương là một trong những người nắm rõ nhất về cuộc đời Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cả cuộc đời làm thư ký cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà thơ Việt Phương đã đúc kết 7 điều về người lãnh đạo đáng kính của mình.
Một trong bảy điều mà Việt Phương đã đúc kết được về cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng chính là tinh thần trách nhiệm và tình cảm yêu thương tuyệt đối mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng dành cho vợ con mình.
Phu nhân của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là bà Phạm Thị Cúc, một người con gái Hà Nội. Ngày đó, gia đình bà Phạm Thị Cúc có một quán bán hàng. Bố mẹ bà là những người yêu nước nên gia đình bà trở thành cơ sở cách mạng, từng giúp đỡ, cưu mang nhiều nhà cách mạng lớn của ta thời kỳ đó. Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nhiều lần ghé qua gia đình bà Phạm Thị Cúc. Chính những lần viếng thăm này đã khiến tình cảm giữa hai ông bà nảy nở.
Khi mới nên nghĩa vợ chồng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng hứa với vợ, dù có đi làm cách mạng ở đâu, ông cũng nhất định đưa bà đi cùng. Nhưng sau này vì điều kiện công việc, vì nhiệm vụ cách mạng, ông đã không giữ được lời hứa của mình với người vợ hiền.
Quãng thời gian ông được Chính phủ biệt phái vào Nam, thương hoàn cảnh vợ chồng ông xa nhau, Bác Hồ đã cho phép bà Phạm Thị Cúc vào Nam với chồng. Vì nhớ chồng mà khi đó, bà đã đi bộ vượt Trường Sơn trong 5 tháng ròng rã để vào Nam gặp chồng. Vào đến nơi thì cũng là lúc ông được lệnh ra Bắc, bà lại vượt Trường Sơn ra Bắc. Suy sụp sức khỏe sau những hành trình dài vất vả như thế, lại thương nhớ chồng ngày đêm, bà sinh ra bệnh nửa quên nửa nhớ. Sau một thời gian phát bệnh, bà rơi vào trạng thái trầm kha khiến căn bệnh của bà càng khó lòng cứu chữa.
Mặc dù Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đưa bà đi chữa bệnh ở cả Trung Quốc, Liên Xô nhưng bệnh tình của bà vẫn không hề thuyên giảm. Khi đó, một số chuyên gia y khoa đầu ngành của nước bạn khi nghe về bệnh tình của bà đã chẩn đoán nguồn cơn căn bệnh của bà là do xa vắng chồng lâu ngày. Họ khuyên đưa bà về Việt Nam để có điều kiện gần gũi với chồng con, với hi vọng nhờ thế bệnh tình sẽ thuyên giảm.
Nghe theo lời khuyên của bác sĩ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng dù bận rộn việc nước vẫn dành nhiều thời gian ở bên vợ, chăm sóc, động viên, gần gũi bà. Nhưng bệnh tình của bà không vì thế mà thuyên giảm. Bà Phạm Thị Cúc phát bệnh khi rất trẻ khiến những năm tháng sau này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất vất vả để chăm sóc gia đình của mình.
Năm 1951, con trai ông bà ra đời khi bệnh tình của bà bắt đầu có xu hướng nặng lên, ông đặt tên con là Phạm Sơn Dương và đưa con vào Phủ Chủ tịch sống, còn bà thì sống ở căn biệt thự trên phố Khúc Hạo. Ngày đó, một tuần vài lần, ông đều đưa con trai đến căn biệt thự trên phố Khúc Hạo thăm bà. Nhà thơ Việt Phương khi đó cũng sống tại căn biệt thự này nói rằng, lần nào đến thăm vợ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nói chuyện với vợ rất dịu dàng. Ông thường ngồi bên giường bệnh của bà, khi thì nắm tay bà thật âu yếm, khi thì ngồi chải lại mái tóc cho bà.
Bệnh tình khiến bà Phạm Thị Cúc cứ lúc quên lúc nhớ, nhưng điều đặc biệt là bà nhớ rất kỹ những chuyện thời xưa nên lần nào đến thăm vợ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng kiên nhẫn gợi lại chuyện xưa với vợ, cốt để vợ vui. Ông vẫn hi vọng nhờ đó bệnh tình của bà sẽ dần khôi phục. Nhưng những nỗ lực của ông không thể giúp bà khỏi bệnh.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một người hết mực yêu thương vợ. Bà bị bệnh khi còn rất trẻ, nhiều người khuyên ông nên lấy vợ khác. Nhưng ông một mực từ chối. Ông yêu bà và muốn trọn vẹn tình nghĩa với bà nên đã quyết định ở bên bà và chăm sóc bà, dẫu cuộc sống riêng của ông vì thế mà chịu nhiều thiệt thòi. Lúc nào, ông cũng dặn con trai mình phải thường xuyên quan tâm và yêu thương mẹ.
Những ngày bận bịu công việc không qua Khúc Hạo được, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường dặn con trai Phạm Sơn Dương qua trò chuyện với mẹ. Mỗi lần như thế, ông đều gửi tặng bà những món quà nho nhỏ, cốt để bà vui.
Nhắc về bà Phạm Thị Cúc, nhà thơ Việt Phương kể, tuy bệnh tật như thế, nhưng bà vẫn là một người phụ nữ rất dịu dàng. Các con trai của nhà thơ Việt Phương rất quấn quýt với bà và đặc biệt được bà yêu mến. Chiều chiều, bà thường ngồi trên cái ghế tựa ngoài vườn ngắm hai người con trai của nhà thơ Việt Phương chạy nhảy, nô đùa trong sân và mỉm cười dịu dàng. Số phận đã không ưu ái bà khi bắt bà chịu cảnh bệnh tật từ khi còn quá trẻ, chẳng có cơ hội an hưởng hạnh phúc bên chồng con. Dẫu vậy, bà vẫn may mắn có được sự yêu thương và chăm sóc hết mực của chồng.
Những năm cuối đời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có một nguyện vọng: Ông mong người vợ hiền của ông “đi trước” ông, để ông được lo cho bà một cách tươm tất, trọn vẹn, chu đáo, để ông được yên tâm, thanh thản bởi cả đời mình, lúc nào ông cũng nghĩ ông nợ bà. Nhưng ông đã bỏ bà ra đi trước và phải gửi gắm bà lại cho người con trai Phạm Sơn Dương chăm sóc.
Dạy con sống giản dị, khiêm tốn
Thủ tướng Phạm Văn Đồng có một người con trai duy nhất là Thiếu tướng Phạm Sơn Dương. Đó là kết quả của tình yêu giữa ông và bà Phạm Thị Cúc. Con trai ông bà ra đời đã sớm chịu nhiều thiệt thòi khi không có được sự chăm sóc đầy đủ của mẹ. Vì bận bịu công việc của đất nước nên khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng phải nhờ thầy giáo Vũ Linh (em vợ của nhà thơ Việt Phương) vào sống cùng tại Phủ Chủ tịch để vừa lo việc dạy dỗ, bảo ban vừa lo việc học cho Phạm Sơn Dương. Tuy công việc bận bịu nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn cố gắng dành thời gian cho con trai vào những bữa ăn, cùng đưa con trai ngồi ăn với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhà thơ Việt Phương kể, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuy yêu thương con trai nhưng cũng rất nghiêm khắc với con: “Khi Phạm Sơn Dương học tiểu học, có lần vì mâu thuẫn, Phạm Sơn Dương đã đánh nhau với một cậu bạn học là con của một người sửa xe ở đầu phố. Cậu bạn học đó cao to hơn Phạm Sơn Dương nên kết quả là Phạm Sơn Dương bị đánh đau đớn, khắp người xây xước. Khi con trai đi học về, nghe con trai kể lại sự tình, Thủ tướng Phạm Văn Đồng liền cho người đến chuyển lời xin lỗi của ông tới gia đình người thợ sửa xe đó. Người thợ sửa xe đã vô cùng sững sờ và cảm động khi biết con trai mình đánh nhau với con trai của Thủ tướng mà lại nhận được lời xin lỗi từ Thủ tướng.
Hôm đó, người thợ sửa xe cảm động nói: “Con trai tôi to con hơn. Nó có bị sao đâu. Chỉ có con trai của Thủ tướng là bị đau. Tôi không ngờ Thủ tướng lại xin lỗi chúng tôi như thế”".
"Lúc sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người ăn uống rất giản dị nên con trai ông cũng quen với nếp sinh hoạt giản dị như thế từ bé. Tôi còn nhớ, hồi đó nhà bếp thường nấu gạo ngon cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng ăn vì ưu tiên ông bị bệnh dạ dày. Phạm Sơn Dương ăn cùng cha nên đương nhiên được hưởng chế độ đó. Nhưng Dương không hề thích ăn loại gạo ngon này. Cứ mỗi lần đến bữa ăn, Phạm Sơn Dương lại mang bát cơm của mình ra đổi lấy nắm cơm của mấy anh lính bảo vệ. Cơm của lính thì nấu bằng gạo thường, ăn không ngon nhưng Phạm Sơn Dương lại ăn rất ngon lành”.
Là con trai của Thủ tướng đương nhiệm khi đó nên khi bước vào tuổi trưởng thành, Phạm Sơn Dương nhận được không ít lời đề nghị cấp học bổng của các nước bạn, nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ chối tất cả những lời đề nghị đó. Ông không muốn con trai mình hưởng đặc quyền đặc lợi mà yêu cầu con trai mình phải tự rèn luyện bản thân. Vì thế, thay vì cho con đi học nước ngoài, ông quyết định cho con vào quân đội. Quãng thời gian đi học, Phạm Sơn Dương được đối xử như một học sinh bình thường chứ không phải con trai của Thủ tướng.
Mối thân tình giữa Thủ tướng và người thư ký 53 năm
Nhà thơ Việt Phương làm thư ký cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng suốt 53 năm. Vì thế, tình cảm giữa Việt Phương và Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng vô cùng sâu đậm. Vợ của ông – bà Tú Lan- được Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận làm em gái nuôi. Các con của ông cũng được Thủ tướng Phạm Văn Đồng hết sức yêu quý. Nhà thơ Việt Phương kể, khi các con ông còn bé, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thường chơi với các con ông khi có thời gian rảnh. Thủ tướng sống trong Phủ Chủ tịch cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và ăn cơm cùng người.
Không ít bữa cơm, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa con của nhà thơ Việt Phương đi dùng cơm cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một kỷ niệm đẹp và vô cùng đáng quý với gia đình nhà thơ Việt Phương. Bởi với nhà thơ Việt Phương, việc các con ông được ăn cơm cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một vinh dự lớn cho cả gia đình nhà thơ nói chung và các con của ông nói riêng.
Đôi lúc vì áp lực công việc, vì cấp dưới làm việc chưa đúng ý, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng có thể nổi cáu. Và người duy nhất có thể làm ông nguôi cơn giận ngay lập tức mà không vì bất cứ lý do gì chính là nhà thơ Việt Phương. “Mỗi khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng cáu, anh em lại gọi tôi đến. Mỗi khi nhìn thấy tôi, Thủ tướng lập tức nguôi cáu giận. Có lần tôi tháp tùng Thủ tướng đi tham quan Vịnh Hạ Long. Hôm đó, Thủ tướng ngỏ ý muốn đi tàu dạo quanh vịnh. Biết tin đó nên hai tàu hải quân đã được lệnh tháp tùng Thủ tướng, một tàu đi trước, một tàu đi sau vừa làm nhiệm vụ dẫn đường, vừa đảm bảo an toàn cho Thủ tướng. Thấy tàu hải quân đi ngay trước tàu mình một đoạn, biết là tàu đi bảo vệ mình, Thủ tướng rất giận với các cán bộ ở Quảng Ninh vì Thủ tướng cho rằng Quảng Ninh đã bày vẽ tốn kém, phí tiền của Nhà nước mà chưa có sự đồng ý của Thủ tướng. Khi đó, tôi ở trên tầng trên, nghe tiếng của Thủ tướng, biết là ông giận dữ nên liền chạy xuống. Nhìn thấy tôi, Thủ tướng đã bớt giận đi đôi phần. Đến khi tôi giải thích việc bảo vệ Thủ tướng là chính sách của Đảng và là nhiệm vụ của các địa phương, thì ông hoàn toàn nguôi giận và tiếp tục buổi tham quan”.
Nhà thơ Việt Phương kể: “53 năm làm thư ký cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cả tôi và Thủ tướng đều mặc định với nhau một điều: có thể trong thâm tâm, chúng tôi rất hiểu nhau và đánh giá cao những việc mà người kia làm, nhưng Thủ tướng Phạm Văn Đồng không bao giờ khen: “Phương làm việc này tốt, Phương làm việc kia hay”. Tôi cũng không bao giờ nịnh Thủ tướng theo kiểu: “Việc này anh giải quyết thật hợp tình hợp lý, hay bài diễn văn hôm nay của anh thật hay”. Chúng tôi đều là người không thích nói ra những lời khen ngợi.
 (BBT sưu tầm)

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2013

Học tiếng Anh bằng... Thơ (bài cuối)


Stupid có nghĩa là khờ,
Đảo lên đảo xuống, stir nhiều nhiều.
How many có nghĩa bao nhiêu.
Too much nhiều quá, a few một vài
Right là đúng, wrong là sai
Chess là cờ tướng, đánh bài playing card
Flower
có nghĩa là hoa
Hair là mái tóc, da là skin
Buổi sáng thì là morning
King là vua chúa, còn Queen nữ hoàng.

Wander có nghĩa lang thang
Màu đỏ là red, màu vàng yellow
Yes là đúng, không là no
Fast là nhanh chóng, slow chậm rì
Sleep là ngủ, go là đi
Weakly ốm yếu healthy mạnh lành
White là trắng, green là xanh
Hard là chăm chỉ, học hành study
Ngọt là sweet, kẹo candy
Butterfly là bướm, bee là con ong
River có nghĩa dòng sông
Wait for có nghĩa ngóng trông đợi chờ
Dirty có nghĩa là dơ
Bánh mì bread, còn bơ butter
Bác sĩ thì là doctor
Y tá là nurse, teacher giáo viên
Mad dùng chỉ những kẻ điên,
Everywhere có nghĩa mọi miền gần xa.
A song chỉ một bài ca.
Ngôi sao dùng chữ star, có liền!
Firstly có nghĩa trước tiên
Silver là bạc, còn tiền money
Biscuit
thì là bánh quy
Can là có thể, please vui lòng
Winter có nghĩa mùa đông
Iron là sắt còn đồng copper
Kẻ giết người là killer
Cảnh sát police, lawyer luật sư
Emigrate là di cư
Bưu điện post office, thư từ là mail
Follow
có nghĩa đi theo
Shopping mua sắm còn sale bán hàng
Space có nghĩa không gian
Hàng trăm hundred, hàng ngàn thousand
Stupid
có nghĩa ngu đần
Thông minh smart, equation phương trình
Television là truyền hình
Băng ghi âm là tape, chương trình program
Hear là nghe watch là xem
Electric là điện còn lamp bóng đèn
Praise có nghĩa ngợi khen
Crowd đông đúc, lấn chen hustle
Capital
là thủ đô
City thành phố, local địa phương
Country có nghĩa quê hương
Field là đồng ruộng còn vườn garden
Chốc lát là chữ moment
Fish là con cá, chicken gà tơ
Naive có nghĩa ngây thơ
Poet thi sĩ , great writer văn hào
Tall thì có nghĩa là cao
Short là thấp ngắn, còn chào hello
Uncle là bác, elders cô.
Shy mắc cỡ, coarse là thô.
Come on có nghĩa mời vô,
Go away đuổi cút, còn vồ pounce.
Poem có nghĩa là thơ,
Strong khoẻ mạnh, mệt phờ dog- tiered.
Bầu trời thường gọi sky,
Life là sự sống còn die lìa đời
Shed tears có nghĩa lệ rơi
Fully là đủ, nửa vời by halves
Ở lại dùng chữ stay,
Bỏ đi là leave còn nằm là lie.
Tomorrow có nghĩa ngày mai
Hoa sen lotus, hoa lài jasmine
Madman
có nghĩa người điên
Private có nghĩa là riêng của mình
Cảm giác là chữ feeling
Camera máy ảnh hình là photo
Động vật là animal
Big
là to lớn, little nhỏ nhoi
Elephant là con voi
Goby cá bống, cá mòi sardine
Mỏng mảnh thì là chữ thin
Cổ là chữ neck, còn chin cái cằm
Visit có nghĩa viếng thăm
Lie down có nghĩa là nằm nghỉ ngơi
Mouse con chuột , bat con dơi
Separate có nghĩa tách rời, chia ra
Gift thì có nghĩa món quà
Guest thì là khách chủ nhà house owner
Bệnh ung thư là cancer
Lối ra exit, enter đi vào
Up lên còn xuống là down
Beside bên cạnh, about khoảng chừng
Stop có nghĩa là ngừng
Ocean là biển, rừng là jungle
Silly
là kẻ dại khờ,
Đù đờ luggish, hôn là kiss (thật lâu).
Cửa sổ là chữ window
Special đặc biệt normal thường thôi
Lazy -  làm biếng quá rồi
finish - kết thúc món này ở đây.   (BBT)

Vì sao tôi phải bỏ nghề toán?

Bài viết chia sẻ về cuộc sống người làm toán ở Việt Nam từ những chiêm nghiệm cá nhân của Tiến sĩ toán Mai Huy Tân - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Thực phẩm Đức Việt đã được lưu truyền trên mạng, BlogE xin giới thiệu tới bạn đọc.

22 năm học toán và làm toán

Khi tôi còn là học sinh cấp 3 ở Hà Nội, Việt Nam chưa có lớp chuyên toán. Tôi nhớ khi đó tôi được trường phổ thông 3A Hà Nội chọn và cho đi dự ngoại khóa toán một số chuyên đề dành cho học sinh giỏi như: “hình học phi Ơclit” (do thầy Lê Văn Thiêm giảng) hay chuyên đề “Nhập môn lý thuyết tập hợp” (do cô Hoàng Xuân Sính giảng). Năm 1966, tôi vào học năm thứ nhất, khoa toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng khi đó do chiến tranh phá hoại, nên trường sơ tán tại huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (nay là Thái Nguyên).

Cũng năm đó, GS. Tạ Quang Bửu, khi đó là Bộ trưởng Bộ Đại học và THCN cho thành lập các lớp phổ thông chuyên toán thuộc khoa toán, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi vẫn còn nhớ một vài bạn học sinh phổ thông chuyên toán đầu tiên thời ấy cũng học ở nơi sơ tán, như bạn Nhung, bạn Kiếm, bạn Hùng, bạn Quát, bạn Thi… Các bạn đó sau khi tốt nghiệp phổ thông, có người được đi học đại học ở nước ngoài, nhưng phần lớn đều trở thành sinh viên khoa toán, Đại học Tổng hợp ở nơi sơ tán như tôi.

Suốt những năm học toán ở Đại Từ, sinh viên không biết tới đèn điện là gì, ăn sáng trước khi lên lớp là một thứ xa xỉ mà sinh viên ít khi dám mơ tới, thầy và trò học toán cao cấp dưới mái tranh tre nứa lá.

Hồi ấy, cũng trong điều kiện gian khổ của chiến tranh, chúng tôi còn được nghe GS. Grothendieck, nhà toán học người Pháp đoạt giải thưởng Fields, giảng về lý thuyết Topo đại số, mà trên đầu ông vẫn đội chiếc mũ rơm do GS. Lê Văn Thiêm tặng (ông chấp nhận lời mời của Việt Nam sang trao đổi toán học và giảng dạy toán tại Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh rất ác liệt)…

Giờ đây, tôi vẫn ghi nhớ công ơn các thầy Lê Văn Thiêm, Hoàng Tuỵ, Phan Đức Chính, Hoàng Hữu Đường và các thầy khác đã dạy chúng tôi nên người. Và tôi vẫn cho rằng tiền bạc, cơ sở vật chất là quan trọng, nhưng không phải yếu tố quyết định hàng đầu đến chất lượng giáo dục, mà là THẦY và TRÒ. THẦY giỏi, yêu nghề và hết lòng vì học sinh, TRÒ chăm chỉ, say mê khoa học mới là những yếu tố quan trọng nhất và quyết định nhất.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân toán của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1970, tôi được nhận công tác tại Phòng Toán kinh tế – Bộ Điện và Than. Ngay khi mới ra trường, tôi đã theo chân các bậc đàn anh như anh Thái, anh Thiều hăng hái xuống thực tế để làm các đề tài nghiên cứu toán ứng dụng như: xây dựng các hàm sản xuất trong điều độ tại mỏ than Cọc Sáu, sơ đồ PERT trong đại tu lò hơi nhà máy điện Yên Phụ…

Một số nghiên cứu ban đầu còn đang dở dang thì tôi nhập ngũ vào tháng 9-1971, tham gia mặt trận Quảng Trị 1972, và công tác tại Cục Quản lý xe máy, Tổng cục Hậu cần – Bộ Quốc phòng từ năm 1973.

Lúc đó, cũng như ông Ngô Huy Cẩn (thân sinh GS. Ngô Bảo Châu), các cán bộ khoa học, dù là cử nhân hay tiến sĩ, đều gia nhập quân đội với lon binh nhì và phụ cấp 5 đồng một tháng.

Khi tôi còn ở trong quân ngũ, Cục trưởng Cục Quản lý xe Vũ Văn Đôn đã gọi tôi đến để trình bày xem ứng dụng toán kinh tế như thế nào. Rồi tôi cũng đề xuất và được cử đi làm đề tài ứng dụng toán kinh tế trong hợp lý hóa chi phí sửa chữa xe máy tại nhà máy Z151…

Sau khi rời quân ngũ, tôi được trở về công tác tại Phòng Toán kinh tế – Bộ Điện & Than. Thời kỳ đó, toán kinh tế rất được chú trọng, đặc biệt trong nghiên cứu và ứng dụng. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã cho thành lập Viện Toán kinh tế trực thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Viện điều khiển học, trong đó có điều khiển học kinh tế, cũng được thành lập.

Chúng tôi thường hăng hái say mê tham dự các seminar khoa học ở Viện Toán học, Viện Toán kinh tế, Viện Điều khiển học… Các đề xuất nghiên cứu ứng dụng như: ứng dụng toán học trong cân bằng năng lượng, xây dựng các hàm sản xuất phục vụ cân đối dây chuyền khoan – nổ – xúc – tải ở các mỏ than lộ thiên… đều được Bộ Điện & Than tạo mọi điều kiện để các cán bộ toán kinh tế trẻ tuổi chúng tôi nghiên cứu triển khai.

Rồi sau đó tôi thi đỗ nghiên cứu sinh và được cử sang làm luận án tại Trường Đại học Tổng hợp Martin Luther, thành phố Halle, CHDC Đức. Bộ môn toán ứng dụng trong kinh tế của trường này (thuộc Khoa Kinh tế) do GS. Lassmann là chủ nhiệm bộ môn, ông cũng là người thầy trực tiếp hướng dẫn luận án cho tôi.

GS. Lassmann có quan hệ khoa học mật thiết với GS. Toán học Leonid Kantorovich, Viện sĩ Viện hàm lâm khoa học Liên Xô (ông là Giáo sư toán nhưng được trao giải thưởng Nobel kinh tế vì những công trình toán ứng dụng cho nghiên cứu kinh tế). Tôi có vinh dự được gặp Giáo sư Viện sĩ Kantorovich trong một hội nghị khoa học về toán kinh tế ở CHDC Đức do GS. Lassmann tổ chức.

Năm 1986, tôi bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài “Các phép toán tối ưu ứng dụng trong lập kế hoạch sản xuất xí nghiệp công nghiệp…” và được hội đồng khoa học chấm điểm Summa cum laude (xuất sắc).

Do đó, GS. Lassmann đã đề nghị với Đại sứ quán Việt Nam để tôi được làm tiếp Habilitation (tiến sĩ khoa học), nhưng tiếc là lời đề nghị này không được đáp ứng, và tôi trở về nước năm 1986. Khi đó Phòng Toán máy tính Bộ Điện & Than đã không còn nữa sau những lần thay đổi tổ chức. Tôi đã thử tìm cách xin về Phòng Toán kinh tế thuộc Uỷ ban phân vùng kinh tế Nhà nước để có điều kiện tiếp tục các hoạt động nghiên cứu ứng dụng toán kinh tế, nhưng nguyện vọng này không được chấp nhận, vì Bộ Đại học nhất quyết phân công tôi trở về nhận công tác tại Bộ Năng lượng, là nơi đã cử tôi đi nghiên cứu sinh.

Thế là tôi chấp hành sự phân công của tổ chức và nhận công tác tại Trung tâm Thông tin KHKT, Bộ Năng lượng, với nhiệm vụ chính là dịch thuật và chọn lọc thông tin. Sau đó, tôi cố đề xuất và được Bộ giao cho chủ trì một đề tài khoa học “Ứng dụng các phương pháp toán kinh tế để xây dựng và lượng hóa mối tương quan giữa giá điện, giá than với giá các sản phẩm chủ chốt khác của nền kinh tế quốc dân, làm cơ sở xây dựng chính sách giá năng lượng”. Đề tài được nghiên cứu hơn một năm, nhưng rồi kết quả cũng bỏ đấy, vì không có khả năng ứng dụng.

Năm 1988 là một thời điểm rất khắc nghiệt của giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới. Tại cơ quan tôi công tác, Bộ cắt bớt một nửa quỹ lương, nên cơ quan phải tự làm kế hoạch 3 để lo lương cho một nửa số cán bộ còn lại. Với ý thức tự trọng của một nhà khoa học và tâm đắc với lời kêu gọi “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu” của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi tự nguyện xung phong vào số phải tự lo lương bằng các hoạt động khác, đương nhiên là “phi toán học”.

Bỏ nghề toán, theo các nghề phi toán học

Hoạt động đầu tiên của tôi là dịch thuật và xuất bản sách. Nhờ các kiến thức và khả năng ngoại ngữ nên những cuốn sách đầu tiên về marketing, kinh tế thị trường hay tin học đều bán chạy, mang lại doanh thu và lợi nhuận.

Nhưng rồi Bộ Năng lượng cũng không còn tồn tại nữa khi sáp nhập với các bộ khác thành Bộ Công nghiệp. Tôi lại phải tự tìm lấy chỗ đứng của mình khi cùng với một số bạn bè trí thức học ở Đức về tự lập ra Trung tâm giao lưu Việt – Đức về văn hóa, ngôn ngữ và công nghệ (ZKST). Trung tâm này đã chủ động thiết lập quan hệ với Đại sứ quán CHLB Đức, Viện Goethe ở Munich, Viện Max Planck và nhiều tổ chức khoa học, trường đại học của Đức, qua đó đã triển khai được nhiều hoạt động giao lưu văn hóa khoa học mà không cần lệ thuộc vào nguồn ngân sách nhỏ bé của cơ chế xin – cho.

Dần dần mạng lưới quốc tế mà tôi kiên trì từng bước xây dựng đã dẫn tôi tới một nghề mới: tư vấn đầu tư cho các công ty của Đức ở Việt Nam (Mercedes Benz: công nghiệp ô tô, FER: công nghiệp phụ trợ, PETKUS: công nghiệp xử lý hạt giống và xử lý nước thải…).

Quá trình tư vấn đầu tư, cũng là quá trình học hỏi kinh nghiệm phong phú của các nhà quản lý Đức, đã dẫn tôi tới một nghề mới: nghề kinh doanh và tự mình trở thành doanh nhân. Năm 2000, tôi cùng một vài người bạn (Đức và Việt Nam) lập ra Công ty TNHH Đức Việt và bắt đầu thử nghiệm sản xuất xúc xích Thueringen của Đức.

Sự thành công ban đầu đã dẫn tới sự ra đời của Công ty liên doanh Đức Việt với một nhà máy chế biến xúc xích ở tỉnh Hưng Yên. Năm 2008, chuyển thành Công ty cổ phần thực phẩm Đức Việt chuyên sản xuất và cung cấp thực phẩm sạch, trong đó có các loại xúc xích Đức với thương hiệu “THỰC PHẨM ĐỨC VIỆT” nhiều năm được bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao, được trao Cúp Tự hào thương hiệu Việt và Danh hiệu Sao Vàng Đất Việt.

Thay lời kết

Qua câu chuyện kể về 22 năm học toán và làm toán, rồi hơn 20 năm phải bỏ nghề toán và nhiều lần chuyển nghề, chắc các bạn cũng có thể chia sẻ suy tư của tôi về nguyên nhân các nhà toán học ở Việt Nam lại gặp nhiều khó khăn đến vậy trong phát triển nghề nghiệp của mình, cả trong nghiên cứu lý thuyết lẫn trong nghiên cứu ứng dụng.

Vào dịp kỷ niệm 50 năm khoa toán cơ tin học, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (tức khoa toán Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây), GS. TSKH. Phạm Kỳ Anh, Chủ nhiệm khoa, có đề nghị tôi phát biểu và đọc báo cáo tại lễ kỷ niệm tổ chức ở Nhà hát lớn Hà Nội.

Tôi ngại ngùng từ chối vì đã bỏ nghề toán lâu rồi. Nhưng GS. Phạm Kỳ Anh nói rằng, chính đặc điểm đó của tôi là lý do ông muốn mời tôi phát biểu với hàm ý rằng người học toán, có tư duy toán học, có thể thành công không những trong lĩnh vực toán học, mà còn cả trong những lĩnh vực khác, ví dụ kinh tế hoặc kinh doanh. Còn GS. Phan Văn Hạp (nguyên Chủ nhiệm khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội) thì nói đùa rằng: khoa ta có hai Đức Việt, anh Hồ Đức Việt là Ủy viên Bộ Chính trị, còn anh Tân Đức Việt là doanh nhân sản xuất xúc xích.

Cuối cùng tôi muốn nhắn nhủ một điều với các bạn trẻ: hãy yêu toán, học giỏi toán thì các bạn nhất định sẽ thành công trong cuộc sống.(MHT)


Thứ Hai, 15 tháng 7, 2013

Thơ tình tháng bảy (bài 2)

Hồi 20:54 ngày 11/ 6, khi nhận xét bài HOÀI NIỆM THÁNG SÁU, một bạn nặc danh tự xưng là Phó Thường dân đã đặt hàng tôi làm bài thơ bảy chữ hoặc lục bát trong đó có từ "mưa ngâu", với hợp đồng một bộ comple trị giá 3 triệu đồng (mời các bạn xem TẠI ĐÂY). Tôi đã thỏa thuận  không lấy comple mà chỉ yêu cầu bạn viết 100 nhận xét trên blogE. Bạn ấy đã chấp nhận đề nghị của tôi, nếu có thơ hay, còn nếu thơ dở thì cũng ghi 50 nhận xét, với nick name "MƯA NGÂU". Trăn trở mãi hôm nay  mới  viết xong được bài thơ tạm gọi là ưng ý. Tôi chắc bạn Phó Thường dân sẽ hài lòng và sắp tới trên blogE sẽ thường xuyên xuất hiện một độc giả nhiệt tình với nick name "MƯA NGÂU".

TÌNH XƯA

Ngày em mười tám tuổi xanh
Lúa thì con gái trăng thanh nhuộm vàng
Nhà em ở mãi cuối làng
Tắt đồng anh tới, khẽ khàng em thưa...

Thế mà đã hoá ngày xưa
Lúa thì đã gặt, trăng thưa cuối trời.
Xa nhau mấy chục năm rồi
Hỏi em còn nhớ? em cười: sao quên!

Ngỡ rằng tình đã ngủ yên
Lại bừng tỉnh giấc nàng tiên cuộc đời.
Trái tim thổn thức một thời
Hôm nay lại nhảy như hồi thanh xuân.
 
Nghĩ đời mình lắm gian truân
Trời thương nên để một lần mưa Ngâu.
Chỉ nhìn nhau, nói gì đâu
Mà như bay bổng giữa bầu trời xanh.

Mãi em mười tám trong anh
Tên em như đã hoá thành vần thơ
Tình xưa như một giấc mơ
Anh dù tỉnh giấc vẫn ngơ ngẩn hoài.

                          Hà Nội, tháng 7/2013

Xin gửi tới Mưa Ngâu và các bạn bản nhạc đồng xanh  để bù lại khiếm khuyết của bài thơ nhé