Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2014

Bạn hiểu gì về Tết nguyên đán?

Định danh


Tết Nguyên Đán của Việt Nam (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết Việt Nam hay chỉ đơn giản Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam, theo ảnh hưởng văn hóa của Tết Âm lịch Trung Hoa. Trước ngày Tết, thường có những ngày khác để sửa soạn như “Tết Táo Quân” (23 tháng chạp âm lịch) và “Tất Niên” (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch).

Vì Tết tính theo Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của Mặt Trăng nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).

Hàng năm, Tết được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 1 theo âm lịch trên đất nước Việt Nam và ở một vài nước khác có cộng đồng người Việt sinh sống. Trong những ngày Tết, các gia đình sum họp bên nhau, cùng thăm hỏi người thân, mừng tuổi và thờ cùng tổ tiên… Theo phong tục tập quán, Tết thường có những điều kiêng kỵ.

Nguồn gốc

Chữ “Tết” do chữ “Tiết” mà thành. Hai chữ “Nguyên đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”. Tết Nguyên đán được người Trung Hoa hiện nay gọi là “Xuân Tiết” hoặc “Nông lịch tân niên”, và vẫn là tết cổ truyền của họ, mặc dù từ năm 1949, Trung Quốc đã chính thức chuyển qua dùng dương lịch và chuyển qua gọi Tết dương lịch là Tết Nguyên đán.

Do cách tính của âm lịch Việt Nam có khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên đán của người Việt Nam đôi khi không hoàn toàn trùng với Xuân tiết của người Trung Quốc và các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa và vòng Văn hóa chữ Hán khác, mà có thể chênh lệch 1 ngày.

Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thừa”) trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán. Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ “tạo thiên lập địa” như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau. Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán ở nước ta

Truyền thuyết và lịch sử cho thấy: Họ Hồng Bàng dựng n­ước Văn Lang từ năm Nhâm Tuất 2879 trư­ớc công nguyên, trị vì cả 2.622 năm. Kinh Dư­ơng Vư­ơng sinh ra Lạc Long Quân, sau khi nối ngôi, vị vua hiền đức này kết hôn cùng bà Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Từ thời đó, người Việt ta đã ăn Tết. Bắt đầu có bánh chưng, bánh giầy nhờ sáng kiến của Lang Liêu – con trai thứ 18 của vua Hùng Vương 6. Có thể nói, nư­ớc ta sớm hình thành một nền văn hoá truyền thống mang bản sắc riêng của ngư­ời Việt. Nền văn hoá với những đặc trưng của nền nông nghiệp lúa nư­ớc, cùng những sản vật từ lúa gạo. Gạo – thứ thực phẩm chính nuôi sống con ngư­ời, trong đó gạo nếp là thứ ngon nhất, thơm, dẻo, nhiều chất. Chính vì lẽ đó, gạo nếp đ­ược chọn để làm thành các thứ bánh dành cho việc cúng tế tổ tiên trong ngày đầu năm. Thực ra, cho đến nay, nói một cách chính xác dân ta ăn Tết bắt đầu từ khi nào không ai nắm rõ. Lịch sử Trung Hoa viết, từ thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên và Tích Quang – quan nư­ớc Tàu sang n­ước ta, truyền cho dân ta biết làm ruộng và các sinh hoạt văn hoá khác, trong đó có cả việc ăn Tết cổ truyền. Song thực tế đã chứng minh rằng: Tr­ước khi ngư­ời Trung Hoa sang đô hộ, dân tộc Việt đã có sinh hoạt văn hoá nền nếp và đặc sắc.

Thứ nhất:Vua Hùng không giống các vị hoàng đế Trung Hoa – nhất nhất theo Khổng giáo. Việc truyền ngôi cho con trai thứ 18 đã chứng tỏ sự khác biệt của dân tộc Việt với dân tộc Hoa. Thông thường các hoàng đế truyền lại ngôi cho vị hoàng tử cả như­ng Hùng Vương thứ 6 của n­ước Văn Lang không theo nguyên tắc đó, ông chọn ngư­ời kế vị trị vì đất nước thay mình là người hiền đức, bất luận đó là cả hay thứ.

Thứ hai:Lang Liêu là một hoàng tử, đư­ơng nhiên phải là ngư­ời đư­ợc tiếp thu, thấm nhuần văn hoá dân tộc và tư­ duy theo cách của đồng bào mình. Theo đó, thấy rằng, dân tộc Việt ta có cách nghĩ thực tế hơn so với ngư­ời Hoa. Bánh chư­ng vuông tư­ợng trư­ng cho đất. Đất ở đây không có nghĩa là trái đất, mà là những mảnh ruộng vuông vắn – nơi người dân trồng cây lúa nư­ớc nuôi sống chính mình. Bánh giầy tượng trưng cho trời tròn không có nghĩa là bầu trời hình tròn, mà là hệ vòng quay 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông liên tiếp. Ngư­ời Hoa th­ường giải thích vạn vật qua những hệ số, bói toán trừu t­ượng, đôi khi như­ ma thuật rất xa xôi, khó hình dung.

Như­ vậy, có thể nói Tết cổ truyền của Việt Nam phải hình thành từ trư­ớc thế kỷ thứ nhất, không phải do ngư­ời Hoa khai hoá hay đồng hoá.Tuy nhiên, do cùng nằm chung vùng lục địa, lại nằm kề nhau nên không thể không mang những ảnh hư­ởng của nhau. Sau này, khi Trung Hoa đô hộ nư­ớc ta nhiều năm liền những ảnh h­ưởng đó càng lớn hơn. Song về cơ bản bánh chư­ng, bánh giầy là đặc tr­ưng của dân tộc Việt. Trong ngày Tết cổ truyền có thể thiếu câu đối đỏ song không thể không có bánh ch­ưng xanh để cúng tế tổ tiên.

Ngày nay, Việt Nam quy định viên chức và công nhân lao động được nghỉ Tết vào ngày 29 hoặc ngày 30 trước Tết và từ mùng Một đến mùng Ba (tổng cộng 4 ngày). Việt kiều sinh sống tại Âu Châu hay Bắc Mỹ hoặc chỉ giữ ngày mùng Một hoặc tổ chức Tết vào ngày cuối tuần gần nhất.

Ngoài ra, người ta thường nói “20 Tết”, “15 Tết”… đây chỉ là nói những ngày ảnh hưởng do những công việc để chuẩn bị đón Tết hay dư âm còn lại của những ngày Tết.

Nguyên nghĩa của Tết chính là “tiết”.Văn hóa Việt – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”) trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.

Ngày nay, cùng với người Hoa, người Việt, các dân tộc khác chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa như Triều Tiên, Mông Cổ, Tây Tạng, Nepal, Bhutan, H’mông Trung Quốc cũng tổ chức Tết âm lịch và nghỉ lễ chính thức. Trước đây Nhật Bản cũng cử hành Tết âm lịch, nhưng từ năm Minh Trị thứ 6 (1873) họ đã chuyển sang dùng dương lịch cho các ngày lễ tương ứng trong âm lịch.

Các giai đoạn chính

Ngày nay, người Việt Nam ta quan niệm rằng trong ngày Tết thì tất cả mọi thứ đều phải thật sớm và mới. Do đó trước ngày Tết khoảng hơn 2 tuần, các gia đình đã sắm sửa cho ngày Tết. Họ thường quét dọn, trang trí nhà cửa, mua hoa, sắm thức ăn… thật chu đáo cho ngày Tết. Ngoài ra, tất cả những vật dụng không cần thiết hoặc bị cho là đem lại điềm gở cũng bị vứt bỏ.

Cuối năm

Công việc sửa soạn cho ngày Tết của người Việt thường bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, là ngày mà người Việt cúng ông Táo (Táo quân). Theo quan điểm của người Việt thì ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà con người đã làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề tốt xấu của gia chủ. Ông Táo được cúng vào trưa hoặc chiều ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm. Lễ cúng gồm có hương, nến, hoa quả, vàng mã và hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà kèm theo ba con cá chép (cá chép thật hoặc cá chép làm bằng giấy kèm theo cỗ mũ). Theo sự tích ông Táo, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng. Một số gia đình ở nông thôn vẫn còn gìn giữ phong tục dựng cây nêu, trong khi ở thành phố, phong tục này đã bị lãng quên. Theo phong tục, cây nêu được dựng lên để chống lại quỷ dữ và những điềm gở. Cây nêu thường được treo hoặc trang trí thêm những thứ được coi là để dọa ma quỷ như: tỏi, xương rồng, hình nộm và lá dứa. Trước ngày Tết, người Việt cũng chuẩn bị bánh chưng, bánh giầy và các món ăn thịnh soạn để dâng lên ông bà tổ tiên.

Tất niên

Ngày Tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, nó được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thuờng làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang không nơi nương tựa.

Sắp dọn bàn thờ Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau tùy theo từng nhà. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, Mặt Trăng và hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng. Phía sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Có nhà cũng cắm “cành vàng lá ngọc” (một thứ hàng mã) với sự cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc và buôn bán lãi gấp nhiều lần năm trước. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khủy và vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen hai cái đĩa giữa đèn và hương để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó). Trước bát hương để một bát nước trong để coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu và dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.

Giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Dịp này, người ta thường bắn pháo hoa ở những địa điểm rộng rãi, thoáng mát.

Cúng Giao thừa là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến.

Theo tục lệ cổ truyền thì Giao thừa được tổ chức nhằm đón các Thiên binh tức 12 vị Hành khiển). Lúc đó họ đi thị sát dưới hạ giới, rất vội không kịp vào tận bên trong nhà được, nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chính mỗi nhà. Hết một năm, vị Hành khiển cũ đã cai quản Hạ giới trong năm cũ sẽ bàn giao công việc cho vị Hành khiển mới đi xuống sẽ cai quản Hạ giới trong năm mới. Mỗi năm có một vị, sau 12 năm thì các vị Hành khiển sẽ luân phiên trở lại. Mười hai vị Hành khiển và Phán quan gồm: .

1. Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn Hành Binh chi Thần, Lý Tào Phán quan. 

2. Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển, Tam thập lục phương Hành Binh chi Thần, Khúc Tào Phán quan. 

3. Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển, Mộc Tinh chi Thần, Tiêu Tào Phán quan. 

4. Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển, Thạch Tinh chi Thần, Liêu Tào Phán quan.

5. Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển, Hỏa Tinh chi Thần, Biểu Tào Phán quan. 

6. Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải chi Thần, Hứa Tào Phán quan. 

7. Năm Ngọ: Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao chi Thần, Nhân Tào Phán quan. 

8. Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển, Ngũ Đạo chi Thần, Lâm Tào Phán quan. 

9. Năm Thân:Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu chi Thần, Tống Tào Phán quan. .

10. Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc chi Thần, Cự Tào Phán quan.

11. Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển, Thiên Bá chi Thần, Thành Tào Phán quan.

12. Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển, Ngũ Ôn chi Thần, Nguyễn Tào Phán quan.

Mâm lễ được sắp bày với lòng thành kính tiễn đưa người Nhà Trời đã cai quản mình năm cũ trở lại Thiên đình và đón người mới xuống sẽ làm nhiệm vụ cai quản Hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị chỉ có thể ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà. Trên chiếc hương án có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. 
(Theo Tạp chí Phía trước)

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

THƠ KHÔNG CŨ KHI THƠ ĐÍCH THỰC

Bùi Văn Kha

Năm 1969, bài thơ Nghĩ Lại Về Pau-xtôp-xky của Bằng Việt ra đời, chưa in được thời đó nhưng đã nhanh chóng được nhiều sinh viên trí thức biết đến, đọng lại trong tâm trí, nắn nót trong sổ tay mà nhật ký của Nguyễn Văn Thạc sau này thành tác phẩm Mãi Mãi Tuổi Hai Mươi là một ví dụ. Tôi nhớ dăm năm trước khi cùng nhà thơ Bằng Việt vào Phú Yên dự Đêm thơ Nguyên Tiêu Núi Nhạn có ghé qua Quảng Bình gặp nhà thơ Hoàng Vũ Thuật. Trong đêm giao lưu do nhà thơ Nguyễn Đình An- Chủ tịch Hội Văn Nghệ Quảng Bình tổ chức, có một nguyên nhà giáo tuổi cũng trên bảy mươi đọc không sai một từ bài thơ này, chỉ hỏi lại anh Bằng Việt tên bài thơ có phải là Lại nghĩ về Pauxtopxki không? Tôi mau miệng trả lời thay rằng Nghĩ Lại Về Pauxtopxky mới phải.

Ghê gớm thay là một bài thơ tồn tại ngoài luồng vì tính “phản biện” nói theo giọng bây giờ. Dĩ nhiên hai mươi năm sau bài thơ này đã được phép in ra và đây là toàn văn bản bài thơ:
“1. Đồi Trung du phơ phất bóng thông già/ Trường sơ tán, hồn trong chiều lặng gió/Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu!/ “Lẵng quả thông” trong suối nhạc nhiệm màu/ Hay “Chuyến xe đêm” thầm thì mê đắm/ mùi cỏ dại trên cách đồng xa thẳm/ Một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa…/ Có thể ngày mai ta cũng đi qua/ Một cánh cửa nao lòng trong truyện “Tuyết”/Có tiếng chuông rung và con mèo Asckhip/ Ánh nến mơ hồ như hạnh phúc từng mong…/ Xa xôi sao…thời thơ ấu sau lưng!/2. Nhưng không phải thế đâu, không phải thế đâu, cuộc đời không phải thế!/ Giọt nước soi trên tay không cùng màu sóng bể/ Bể mặn mòi,sôi sục biết bao nhiêu/ Khi em đến cùng anh trước biển cả dâng triều…/ Ta thu hết xa khơi vào trong lồng ngực trẻ/ Dám thử mọi lo toan để vạch dấu chân trời/ Dấu xanh thẳm khi bình minh vụt đến/ Dấu den rầm khi đáy bóng đêm trôi…/Và hạnh phúc vỡ ra như một nốt đàn căng/ Nốt cao quá trong đời xao động quá/ Hạnh phúc cực hơn mọi điều đã tả/ Lại ngọt ngào, kỳ lạ, lớn lao hơn!/Anh đã đi qua bão lốc từng cơn/ Cây rung lá trong chiều thanh thản nhất/Anh qua cả màu không gian ngây ngất/ Một tiếng thầm trong nắng mới xôn xao/ Em đã đến rồi đi như một giấc chiêm bao!/3. Bây giờ, anh biết nói gì hơn?/ Có thể, ngày mai thôi…có thể…/ “Hoa tóc tiên ơi! Sớm mai và tuổi trẻ…”/ Lật trang nhật ký nào cũng chỉ xát lòng thêm!/ Pauxtopxky là dĩ vãng trong em/ Thành dĩ vãng hai ta. Bây giờ anh ngoảnh lại:/ Nhưng không phải thế đâu, không phải thế đâu, anh hiểu rằng không phải/ Như tuổi thơ, vừa đó đã xa vời!/ Đưa em đi…tất cả thế xong rồi…/Ta đã lớn. Và Pauxtopxky đã chết!/ Anh vẫn khóc khi nghĩ về chuyện “Tuyết”/ Dầu chẳng bao giờ mong đợi nữa đâu em!” – (năm 1969).
Pauxtopxky mất năm 1968 “thần tượng của tuổi trẻ một thời, với những truyện ngắn nổi tiếng như: Lẵng Quả Thông, Chuyến Xe Đêm, Tuyết,…và nhiều tác phẩm khác, có phong cách lãng mạn cao thượng, có bút pháp phóng túng, tràn đầy lòng cảm thương và trân trọng con người, cũng như những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người”.
Bạn đọc trẻ tuổi hiện tại hỏi rằng vì sao bài thơ này không in được thời ấy. Những năm 1969 – 1972 sau Mậu Thân 1968 cuộc chiến ác liệt, căng thẳng, hy sinh và thiếu thốn lắm. Và đói nữa. Đói vàng mắt, nhất là những ai ở chiến trường Tây Nguyên. Lúc ấy là thời điểm của Phạm Tiến Duật với “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, Gia Dũng với “Còn gì vui hơn đường ra trận mùa xuân”, Lê Mã Lương với “Hạnh phúc đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” và quan trọng hơn là phải như Hữu Thỉnh “Năm anh em trên một chiếc xe tăng…Đã lên xe là cùng một hướng…trước quân thù chỉ biết tiến công”.
     Vậy nên, phi Đỏ (cách mạng) thì là Đen (đế quốc,tay sai), không dành chỗ cho Xanh (tiểu tư sản gồm cả sinh viên trí thức), Vàng (bi quan, lừng khùng, yếm thế). Với những câu như “Những trang sách…Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu”, “Một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa”, “Ánh nến mơ hồ như hạnh phúc từng mong”, “Giọt nước soi trên tay không cùng màu sóng bể”, “Hạnh phúc…Nốt cao quá…Hạnh phúc cực hơn mọi điều đã tả”, “Hoa tóc tiên ơi! Sớm mai và tuổi trẻ/Lật trang nhật ký nào cũng chỉ xát lòng thêm!”, “Ta đã lớn. Và Pauxtopxky đã chết!”…
Cần phải nhớ một thời người ta soi không liền câu liền ý, mà họ cắt như tôi vừa thao tác. Họ cũng hay suy diễn lắm. Và họ đúng. Cái đúng của một phía trong một thời. Kiểm duyệt chẳng cứ nước nào chẳng cứ thời nào bao giờ cũng mắt kính “tinh vi” tay cầm kéo sắt. Nhưng giá trị bài thơ nằm ở lối suy nghĩ “độc lập” của nó. (Tôi mượn chữ của anh Bằng Việt khi trao đổi với anh Lưu Quang Vũ cũng khoảng năm 1970, anh Vũ nói văn chương phải “đối lập” với chính trị, anh Việt cho rằng văn chương nên “độc lập” với chính trị. Chữ “phản biện” hiện nay ưa dùng nó hơi có màu trung tính. Tôi có một kinh nghiệm nhỏ khi phải viết giấy mời, nếu không biết chính xác là đàn ông hay đàn bà thì cứ “đồng chí” là xong!).
Chỉ riêng câu thơ có chủ ý vì nhắc lại hai lần “Nhưng không phải thế đâu, không phải thế đâu, cuộc đời không phải thế! (câu sau: anh hiểu rằng không phải)” đã đưa ra một nghi vấn, một cách đặt vấn đề về nội dung và hình thức, về bản chất bên trong và hiện tượng bên ngoài, cái mà nhiều khi bị che dấu, khuất lấp: xanh thẳm, đen rầm cũng chỉ thử mà thôi. Và thời ấy, hoài nghi là phạm luật.
Tôi đồ rằng khi viết bài thơ này, ngoài việc tỏ một thái độ đoạn tuyệt (dầu có tiếc nuối) Bằng Việt muốn đưa ra một cái gì đó. Thời điểm bấy giờ chưa hội đủ các yếu tố như 15 năm sau 1986. Còn 10 năm trước thì anh bị cái “uầy ù”  như anh Hòa Vang nói năm 1999 tại một cuộc Hội thảo ở 19 Hàng Buồm nhân thể ti vi đang chiếu phim Bao Công vì  công dân Nguyễn Việt Bằng (tên khai sinh của nhà thơ Bằng Việt) học thời “Xét lại Khơrutsop” và phải ăn lương Trung cấp mấy năm dù tốt nghiệp bằng Đại học Luật Kiep.
Kể lể thế để thấy rằng sau này vào năm 2008, anh thẳng thừng luôn trong bài Đệ Nhất Tổ Phái Trúc Lâm Giảng Thiền:
“Một vị tăng hỏi bậc chân tu: “Bạch Thầy, thế nào là Phật?”/Người đáp: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”/ Lại hỏi: “Thế nào là Pháp?”/Người đáp: “Chấp theo lối cũ Là không đúng!”/Hỏi tiếp: “Vậy thế nào là Tăng?”/Người phủi tay cười: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”/Bảy trăm năm sau, tôi hành hương lên Yên Tử/Đêm- nằm mơ thấy Phật./Nhớ chuyện xưa, bèn hỏi: “Bạch Thầy, việc đời thế nào là đúng?”/Người ngậm ngùi: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”/Lại hỏi: “Thế nào là hạnh phúc trần ai?”/Người bật cười to: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”/Hỏi tiếp: “Vậy thế nào là Thơ?”/Người lại phủi tay: “Chấp theo lối cũ là không đúng!””.
Người hỏi 700 năm trước là đệ tử trực tiếp của Phật Hoàng Trần Nhân Tông đâu như Pháp Loa (có thể lắm!) chép lại trong Phật sử. Người hỏi 700 sau là một nhà thơ nổi tiếng Việt Nam hiện tại Bằng Việt. Hỏi 700 năm trước là Tam Bảo Phật – Pháp – Tăng. Hỏi về Kinh Phật. Toàn nguyên lý cơ bản, số một, kê đầu giường. Nói như anh Phạm Xuân Nguyên là truy tận gốc. Hỏi 700 năm sau không hỏi y như cũ nữa, mà đã suy nghĩ nhiều rồi. Có lâu thì mới có giấc mơ kiểu như Menđeleep về Bảng Hệ thống tuần hoàn chứ. Hỏi về Việc đời là hỏi về lý lẽ quan chiêm chứ không hỏi về cuộc đời lại ra tướng số y học; hỏi về Hạnh phúc trần ai là hỏi về mục đích con người tiêu chuẩn tồn tại. Hỏi về Thơ là hỏi về lợi danh. Câu trả lời của Phật Hoàng xuyên suốt 700 năm chỉ có một: “Chấp theo lối cũ là không đúng!”. Hơn 3000 năm trước, Thành Thang chả bảo “Ngày mới! Ngày mới! Lại ngày mới!” là gì!
     Không chấp. Và đó là quan niệm của Bằng Việt. Bài thơ ra đời, rất được nhiều người thích, trong đó có nhiều nhà thơ thành danh như Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Trần Nhuận Minh, Hoàng Vũ Thuật, Trần Quang Quý, Dương Kiều Minh,…nhưng cũng có nhiều người không ưa, trong đó cũng có cả một vài nhà thơ có tiếng. Đã chấp thì vẫn là “Chấp theo lối cũ là không đúng!” dù là Kinh Phật kinh nghiệm hay kinh gì thì cũng vậy.
     Nhưng có một nhà thơ, tuổi đương trẻ như hồi Bằng Việt viết Nghĩ Lại Về Pauxtopxky, nổi tiếng văn chương, viết một bài thơ còn quyết liệt hơn. Phạm vi anh đặt ra chỉ là về mỹ cảm, về Chân – Thiện – Mỹ. Đó là Nguyễn Bình Phương với Bài Thơ Cũ:
“Ta sinh ra cô đơn/ Giờ cô đơn đã cũ/ Ta trưởng thành bởi sợ hãi/ Sợ hãi cũng cũ rồi/ Này tôi/ Một khuôn mặt công chức/ Đứng nhìn/ Những cuộc họp rạc dài/ Tiêu ma bao ý tưởng/Xa xa trải một mùa bệnh hoạn/ Bệnh hoạn cũng cũ rồi/ Số phận già như tôi/ Lọm khọm đi giữa công viên đầy nắng/ Nắng có gì hay hớm nữa đâu/ Đèn bật sáng không còn nơi ẩn náu/ đám @ đánh võng như bay/ Thời gian ngã máu tuôn/ Tuổi xanh không thể dậy/ Tốc độ ư?/ Thì cũng cũ lắm rồi/ Những ngày dài thật dài/ Ngồi kín đáo trong căn phòng tưởng tượng/ Sông Hồng đê mê hóa một nén hương/ Dẫn ý nghĩ về nơi không thể biết/ Trong bóng râm lạnh lùng vang vang lời nhắc/- Ta lớn lên bởi kiếm tìm/Giờ kiếm tìm đã cũ”.
     Bài thơ này khi đọc xong tôi có nói với anh Nguyễn Việt Chiến là trong 10 năm đầu thế kỷ  này khó có bài thơ nào vượt nổi bởi cách đặt vũ trụ Lão – Trang, bởi sự điềm chấp F. Kapka, bởi E. Cantơ trong tri trí. Đặc biệt là Cantơ nhưng không “Bất khả tri” mà “Vật tự nó” nhiều hơn. Cũng khó nói hết bới giọng điệu thì nhẹ sự việc quá mảnh như nắng, thời gian, tốc độ, đám trẻ thiêu thân, kể cả kiếm tìm, có gì to tát đâu. Nhưng cái ghê gớm là ở chỗ tất cả đều đã cũ. Mà không phải là cũ mượn cớ, đưa đẩy, ngẫu nhiên. Đây là cũ xét về mặt Tư – Tưởng – Phương – Pháp. Cũ là không mới – dĩ nhiên; cũ là đã qua – không sai; nhưng cũ, nguy hại hơn, còn làm vô cảm, đấy là điều đáng sợ nhất. Cũ , như vậy đánh thẳng vào Con – Người – Nhân – Loại đấy!
Một hôm, dịch giả Đoàn Tử Huyến, nhân một cuộc họp mặt vui có cả Bằng Việt và Nguyễn Bình Phương, mới nửa đùa nửa thật mà rằng: Cả hai ông tôi trông mới không bao giờ cũ!
Vâng! Hai anh tôi đều quen và trọng, với 3 bài thơ có giá trị về tư duy và nghệ thuật, dù sáng tác 40 năm trước hay mới mấy năm nay, đều giúp chúng ta trước cái cũ, cái hiện tại, cái tương lai nên như thế nào để mình luôn mới!
                                                                   Hàng Buồm,Xuân Giáp Ngọ 2014

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Tác giả bài thơ "không đi không biết Đồ Sơn"

Nhạc sĩ Hà GiangBài thơ “Không đi không biết Đồ Sơn” chỉ có bốn câu lục bát:
“Không đi, không biết Đồ Sơn,
Đi thì mới thấy không hơn... 
đồ nhà!
Đồ nhà tuy có hơi già,
Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”.
Nhiều người tưởng bài thơ trên là thơ… dân gian, khuyết danh. Kỳ thực, tác giả của bài thơ nổi tiếng này là nhạc sĩ, nhà giáo Hà Giang.
  * *
Bài thơ nôm na mà ý vị ấy ra đời đến nay đã hai mươi mấy năm. Đây là bài thơ hay, được rất nhiều người ưa thích. Hay, vì nó độc đáo, dí dỏm, lại nồng ấm nghĩa tình.
Hà Giang tên thật là Phạm Tiến Giang, quê thôn Đẩu Sơn, xã Bắc Hà thị xã Kiến An tỉnh Kiến An (cũ); hiện nay gia đình ở phường Phù Liễn, quận Kiến An, TP. Hải Phòng.
Anh là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hội viên Hội Văn học - nghệ thuật Hải Phòng từ những năm 70 của thế kỷ trước, là giáo viên âm nhạc Trường Sư phạm 10 + 3 Hải Phòng, tiền thân của Trường Đại học Hải Phòng (công lập) ngày nay - nơi tôi giảng dạy suốt 32 năm.
Khoá Sư phạm 1972 - 1975, tôi là giáo viên chủ nhiệm lớp C. Văn - Sử, Ban Giám hiệu nhà trường phân công anh Hà Giang làm phó chủ nhiệm lớp của tôi. Anh hơn tôi đến chục tuổi. Hà Giang là đảng viên lớp Hồ Chí Minh đầu tiên (sau khi Bác Hồ từ trần, 1969).
Anh dạy nhạc rất hay, lúc nào cũng nồng nhiệt, cuốn hút, ca hát rất say sưa, lại sáng tác được nhiều bài hát cho quê hương và cho nhà trường, được mọi người yêu thích.
Nhiều bài hát của anh được phổ biến trên Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài phát thanh - truyền hình Hải Phòng.
Tập thể giáo viên và giáo sinh trường tôi rất quý mến, kính trọng anh, vì anh tận tuỵ công tác, sống giản dị, chân thành, giầu tình cảm với mọi người.
Trong khi anh bị nhiều căn bệnh hiểm nghèo như áp xe gan, áp xe thành bụng, phải đại phẫu tới 7- 8 lần mà vẫn sống lạc quan; và trong điều kiện gia cảnh anh rất nghèo, vợ làm nông nghiệp, anh chị lại đông con.
Nhạc sĩ Hà Giang
Hà Giang tại bãi biển Đồ Sơn.
Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng vào khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, khi anh đã “về hưu non” vì lý do sức khỏe, một lần Hà Giang gặp tôi, anh cười giòn tan và bảo: “Tớ mới làm bài thơ như thế này, cậu nghe có được không nhé”.
Rồi anh vừa cười như nắc nẻ, vừa đọc rất hồn nhiên: “Không đi, không biết Đồ Sơn,/ Đi thì mới thấy không hơn đồ nhà/ Đồ nhà tuy có hơi già/ Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”! Nghe anh đọc xong, tôi cũng cười rũ rượi và ôm chầm lấy anh: “Hay lắm! Tuyệt vời!”.
Nhưng anh nói thêm: “Tớ hơi lưỡng lự câu cuối: Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn, hay là thay bằng: “Nhưng là đồ thật, không là đồ sơn”. Cậu thấy thế nào”. Tôi nói: “Mỗi câu đều có ý hay riêng. Tùy anh”.
Anh lại cười, bảo: “Thôi cứ để câu cuối “Suy đi tính lại, đồ nhà vẫn hơn”, xem ra nó thật hơn và có vẻ đấu tranh tư tưởng đấy chứ nhỉ”. Từ đấy, trong những câu chuyện vui với bạn bè, Hà Giang lại đọc cho họ nghe bài thơ ấy.
Tôi cũng thuộc loại “tội đồ” truyền miệng bài thơ của anh. Thế rồi bài thơ cứ được truyền từ người này sang người kia và vượt qua lãnh địa Hải Phòng, lan ra các tỉnh và thành phố từ Bắc đến Nam.
“Không đi, không biết Đồ Sơn”. Nói thêm, nhà anh Hà Giang chỉ cách Đồ Sơn khoảng 18 km đường nhựa to rộng.
Đồ Sơn là bãi biển của Hải Phòng, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, đẹp nổi tiếng cả nước; có nhiều rừng thông, bãi tắm cuốn hút du khách thập phương; có những biệt thự, khách sạn to đẹp và nhan nhản các nhà hàng, nhà nghỉ, các quán ăn uống, quán cà phê, nhà vườn ... Đặc biệt, Đồ Sơn là một khu “ăn chơi” lừng danh, vì có rất nhiều món hải sản quý, mà tôi từng viết: “Ăn một lại muốn ăn hai/ Ăn ba ăn bốn lại đòi ăn năm”.
Nói rộng ra, Đồ Sơn là núi non thơ mộng, là các nhà nghỉ, khách sạn, quán ăn và không thể thiếu các tiếp viên trẻ trung, xinh đẹp, đầy sức quyến rũ, như đã nói ở trên. Còn “đồ nhà”, là cách nói vui chỉ các bà vợ.
Nhưng bài thơ nhân văn ở chỗ, vui đâu thì vui, cuối cùng vẫn thấy chẳng chỗ nào đầm ấm, chân thật, tình nghĩa như ở nhà mình.
Có một điều mà Hà Giang thường “khoe” với chúng tôi: Vợ anh là một người hết sức thương yêu chồng con, giàu đức hy sinh cho gia đình, tạo mọi điều kiện để anh an tâm dạy học và sáng tác, sống rất hiền hòa với bà con xóm phố.
Lúc nào có bạn bè của chồng đến chơi, chị đều niềm nở, luôn luôn cười vui, khiến không ai biết là kinh tế anh chị rất thiếu thốn. Có được người vợ tần tảo, nhân hậu như thế, với Hà Giang là một niềm hạnh phúc lớn.
Hà Giang bạn tôi là con người giầu cảm xúc, không kém lãng mạn, nhưng lại rất tỉnh táo và đặc biệt là hết sức yêu thương vợ con, tôn trọng vợ.
Hà Giang đã khuất núi sau một vài năm anh đọc cho tôi nghe bài thơ độc đáo của mình (anh mất năm 1989, khi mới 53 tuổi dương!); nhưng bài thơ thì vẫn còn đó, vẫn tươi mới, hấp dẫn.
Anh để lại cho đời một tiếng cười vui sảng khoái và hồn hậu, dí dỏm mà sâu sắc nghĩa tình.
(Theo kecho.vn)

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Nhân ngày Ông Táo, tản mạn về câu cá và bài thơ hay nhất Đường thi về câu cá

Trần Đông Phong
           Ngày 23 tháng Chạp thấy mọi người bận rộn về việc mua cá rồi thả cá tiến Ông Táo về trời, tôi lại liên tưởng đến việc câu cá và tất nhiên không thể thiếu được một bài thơ Đường về câu cá.
          Câu cá là thú vui, giải trí của nhiều người. Chỗ này thấy đưa tin câu được con cá vàng 10 cân, chỗ kia thấy nói câu được con trắm đen nửa tạ. Ngẫm nghĩ một chút mới thấy rằng không kể những người làm nghề câu cá, việc câu cá giải trí tưởng là cỏn con thế mà từ đông tới tây, từ cổ đến kim, cũng liên quan đến những chuyện quốc gia đại sự thú vị.
         Thoạt tiên ai cũng nghĩ ngay đến chuyện bên Tàu, ông Lã Vọng (TK 12 TCN) câu cá bằng lưỡi câu thẳng, cách mặt nước một gang, thế mà năm 80 tuổi giúp Chu diệt Trụ, được phong làm vua nước Tề, thọ hơn trăm tuổi. Ở Hà Nội có hàng chả cá Lã Vọng ăn theo tích này rất đông khách, là điểm hấp dẫn du khách quốc tế. Ấy là chuyện xưa, đời nay có nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Chủ tịch Trung Quốc, làm chủ tịch danh dự Hiệp hội câu cá năm 1983 năm 86 tuổi. Còn chuyện bên Mỹ thì tổng thống Mỹ Bush (bố) rất thích câu cá, năm 2008 lúc đã 84 tuổi còn câu được con cá cháo (tarpon) khổng lồ nặng 135 pound (hơn 61 kg), đây là trọng lượng kỷ lục đối với cá cháo câu được ở Mỹ. 
Ở nước Nga mới đây năm 2013 tổng thống Putin câu được con cá măng 21 kg, lớn nhất trong số cá măng câu được. Chuyện câu cá thể thao giải trí còn được đưa vào văn học với tác phẩm đoạt giải Nobel văn học Ngư ông và biển cả kể về việc câu một con cá kiếm khổng lồ cỡ bằng con thuyền, của văn hào Hemingway, vốn rất mê câu cá kiếm. Ngày nay quốc tế có Giải câu cá kiếm mang tên Hemingway rất có uy tín.
          Bây giờ ta đến với một bài thơ Đường về chủ đề câu cá. Đó là bài Giang tuyết của Liễu Tông Nguyên.


Nguyên tác:

江雪

千山鳥飛絕,
萬徑人蹤滅。
孤舟簑笠翁,
 獨釣寒江雪。
柳宗元

Phiên âm:

Giang tuyết

Thiên sơn điểu phi tuyệt
Vạn kính nhân tung diệt
Cô chu thôi lạp ông
Độc điếu hàn giang tuyết.
Liễu Tông Nguyên

Dịch nghĩa:

Tuyêt trên sông

Chim bay đi hết khỏi dãy núi hàng nghìn ngọn.
Hàng vạn lối đi nhỏ không một dấu chân người.
Trên con thuyền cô độc có một ông già mặc áo tơi,
Một mình câu cá trong cảnh tuyết lạnh buốt trên sông.

Dịch thơ:

Sông tuyết

Nghìn non chim bay cả
Vạn nẻo vắng bóng người
Thuyền đơn, ông lão lá
Sông nước lạnh buông cần.

          Liễu Tông Nguyên (772-819): người Sơn Tây, TQ, đỗ tiến sỹ, làm quan được đánh giá tốt, trải nhiều thăng trầm. Để lại 140 bài thơ được đánh giá cao. Đặc sắc nhất là bài Giang Tuyết, có thể coi là bất bủ, hay nhất Đường thi về chủ đề câu cá.
(TĐP)

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Nhóm bạn cũ 40 năm gặp lại và bài thơ hay nhất Đường thi về chủ đề Tích Biệt

Trần Đông Phong
Bài này nói về buổi gặp gỡ của nhóm cựu học sinh lớp 7G trường cấp II Trưng Vương Hà Nội sau 40 năm gặp lại (1974-2014).

Trưa Chủ nhật 19-1-2014, theo chương trình hẹn trước do Bích Thu (cựu lớp phó) khởi xướng, nhóm cựu học sinh lớp 7G, Trưng Vương 1974, tụ tập ở trang trại Sóc Sơn của Ngô Minh, lớp trưởng. Quả là một cuộc dã ngoại tuyệt vời.

Một mái nhà sàn, xung quanh là trại gà, chuồng lợn, vườn rau theo kiểu sinh thái nhìn ra mặt hồ rộng mênh mông trong nắng nhạt, trời hơi se lạnh. Mùi thịt nướng tỏa thơm theo gió nhẹ. Rượu nếp cái hoa vàng nhà trồng, trong vắt như mắt mèo, sủi bọt lăn tăn, làm hồn thơ chuếnh choáng. Bình rượu vang đỏ màu Bordeaux với vị chát đặc trưng của vang Pháp làm tăng hương vị khi nghe những vần thơ Pháp trữ tình lãng mạn thế kỷ 19, như là:
‘Il pleure dans mon cœur
comme il pleut sur la rue
Quelle est cette langueur
Qui pénetre dans mon cœur’
Anh khóc trong time m
Như mưa trên phố dài
Nỗi tương tư nào vậy
Đang nhập vào lòng em.

Bác Ngô Quang Thịnh, bố Ngô Minh, tuổi đã gần 90 mà vẫn còn nhớ như in những vần thơ Pháp học từ 80 năm trước, như là “L’an passé, c’était certain que je suis grand”, Thời gian đã qua đi, chắc chắn rằng tôi đã lớn. Thành ngữ Pháp có câu “Le vin est tira, il faut le boire”, Bình rượu vang đã mở, thì phải uống hết. Thật là “Khi chén rượu, khi cuộc cờ”.
Rời Sóc Sơn, cả đoàn về qua nhà Sen Hoa ở Ciputra. Căn hộ ở tầng 11, bố trí khá hợp lý, như rộng hơn diện tích thực. Trên tường treo một bức tranh chữ khá lớn. Sen Hoa nói là của người bạn Trung Quốc tặng chồng Sen Hoa là người Thụy Sỹ, thời gian làm ở Hải Nam. Cả nhà không hiểu nghĩa là gì. Mình hứa tối nay sẽ giới thiệu và dịch bài này lên FB. Đây là bài thơ rất nổi tiếng của Vương Bột, nhà thơ rất nổi tiếng đời Đường.
Nguyên tác:
送杜少府之任蜀州
城闕輔三秦,
風煙望五津。
與君離別意,
同是宦遊人。
海內存知己,
天涯若比鄰。
無為在歧路,
兒女共沾巾。
Phiên âm:
Tống Đỗ Thiếu Phủ chi nhậm Thục Châu

Thành khuyết phụ Tam Tần
Phong yên vọng Ngũ Tân
Dữ quân ly biệt ý
Đồng thị hoạn du nhân
Hải nội tồn tri kỷ
Thiên nhai nhược tỷ lân
Vô vi tại kỳ lộ
Nhi nữ cộng triêm cân.
Vương Bột

Chú thích:
- Vương Bột (647-675): Người Sơn Tây, TQ, nổi tiếng thần đồng về thơ.
- Đỗ Thiếu Phủ: Tên người.
- Thục Châu: Tên đất nay thuộc Tứ Xuyên, TQ.
- Tam Tần: Tên đất nay thuộc Thiểm Tây.
- Ngũ Tân: 5 bến sông thuộc Thục Châu.

Dịch nghĩa:
Tiễn bạn Đỗ Thiếu Phủ đi nhậm chức ở Thục Châu
Chúng ta ở nơi kinh thành bảo vệ vùng đất Tam Tần
Trong cảnh khói gió mờ ảo, cùng nhau nhìn về phía Ngũ Tân thuộc vùng đất Thục Châu, nơi bạn sắp đến để nhậm chức.
Tôi xin chia sẻ với bạn tình cảm ly biệt lúc này.
Bởi vì chúng ta cùng là người phải đi xa để nhậm chức quan.
Miễn là trong biển này, chúng ta vẫn còn là những người tri kỷ, hiểu nhau.
Thì dù phải xa cách nơi góc biển chân trời, chúng ta vẫn cảm thấy như ở bên nhau.
Trên con đường rẽ chia tay, đừng nên ủy mị
Như đám nữ nhi khóc lóc sụt sùi, nước mắt thấm ướt khăn.

Dịch thơ:
1/ Bản dịch của Trần Nhất Lang

Thành xây giữ đất Tam Tần
Trông vời năm bến mấy tầng khói mây.
Bùi ngùi giây phút chia tay
Bác, tôi bể hoạn thường hay đổi dời.
Chúng ta tri kỷ trên đời
Chân mây góc biển như người lân gia.
Chia tay bóng khuất ngã ba
Đừng khăn thấm lệ như là nữ nhi.

2/ Bản dịch của Nguyễn Phước Hậu
Thành phủ xứ Tam Tần
Sương gió miền Ngũ Tân.
Cùng ông ly biệt nhé,
Trôi nổi kẻ làm quan.
Bạn bè trong bốn bể
Góc trời kể cũng gần.
Chớ lần khân nhi nữ
Rẽ bước, ướt dầm khăn.
          Bài thơ này được đánh giá là hay nhất trong thể thơ  “tích biệt”, tiếc phải chia ly. Thường được dùng để tặng bạn thân khi đi xa.
ipad, iphone, smartphone thi nhau chụp, sẽ được Up lên FB nay mai.
(TĐP)