Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Cây bàng vuông cảm hoài

Trần Đông Phong
Năm trước đi Lý Sơn làm điện. Thấy trên đảo có cây bàng vuông là loài thực vật đặc hữu rất đặc sắc. Xin mấy quả mang ra Hà Nội trồng để làm kỷ niệm. Ươm trong chậu cây cảnh. Quả nẩy mầm, qua mấy năm đã thành cây cứng cáp. Nhớ lời anh em hải quân nói, cây này không chịu được mùa đông miền bắc nên giữ lại hai quả cất tủ kính lưu niệm. Nay đem ra chụp mấy kiểu post lên FB. Nhân đó làm bài thơ:


Cây bàng vuông cảm hoài

Lý Sơn năm trước đi làm điện
Xin quả về ươm đã cứng cây
Nắng nhiệt quả sinh nơi đảo sóng
Gió hàn mầm nảy chốn kinh kì
Lá xanh màu đượm pha vàng cát
Thân mảnh dáng nghiêng hướng cát dài
Nỗi nhớ biển xưa bàng vuông đó
Đêm ngày mong thấy đội Hoàng Sa.
TĐP

Chú dẫn:
- Bàng vuông: một loài cây đặc hữu ở Lý Sơn, có ở đây từ rất lâu, là nhân chứng các sự kiện đã diễn ra ở Lý Sơn.
- Lý Sơn: Đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
- Vàng cát: Hoàng Sa
- Cát dài: Trường Sa
- Đội Hoàng Sa: Đội thuyền thời Chúa Nguyễn đóng ở đảo Lý Sơn, mấy trăm năm trước đã đi quản lý, khai thác biển đảo.

La traduction française:

La nostalgie des arbres bang vuong
Depuis les ans précédents j’ai eu une mission pour le travail d’électricité à l’île de Ly Son.
Où j’ai demandé les habitants de l'île de me donner quelques fruits de barringtonia asiatica et puis je les ai prises à Hanoi et je les ai semées en pépinière. Maintenant ils sont devenus les arbres robustes.
Les fruits ont été nés dans le soleil chaud de l’île de vague.
Et ils ont gemmé dans le vent de froide à la capitale de Hanoi.
Ses feuilles vertes portent la couleur qui est imprégnée du sable jaune.
Ses tiges sveltes ont le galbe qui se penche vers au sable longue.
C’est pourquoi ces arbres ont la nostalgie de la vielle mer.
Jour et nuit, elles pensent à voir la Brigade de Hoang Sa (Sable Jaune).
--
Annotation :
- Bang vuong: Barringtonia asiatica, c'est un genre d’arbre typique de l’île de Ly Son depuis la pérennité. On dit que ces arbres travers générations avaient vu tous les évènements sur les îles et les mers ici.
- Ly Son: L’île appartient à la province de Quang Ngai du Vietnam.
- Hanoi : La capitale du Vietnam.
- Le sable jaune : îles Paracels.
- Le sable longue : îles Spratleys
- La Brigade de Hoang Sa (Sable Jaune) : La force vietnamienne a été base sur l’ile de Ly Son et a été charge de manager et d’exploiter les îles et les mers.
(TĐP)



Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

Đoàn đại biểu lớp E dự lễ kỉ niệm 50 năm lớp toán đặc biệt Hải Hưng

Đoàn đại biểu lớp E chuyên toán Hải Hưng 72-75, gồm 5 thành viên do Trưởng Ban liên lạc Trần Quang Hưng dẫn đầu đã tham dự Lễ kỉ niệm 50 năm lớp toán đặc biệt và 30 năm Trưởng THPT Năng Khiếu - Trường Chuyên Nguyễn Trãi (Hải Dương)


Năm anh em có năm cái tên, nhưng ở đây không còn tên riêng nữa



Con gái và con dâu lớp E đều là học sinh chuyên toán.

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

MÙA ĐÔNG ĐẾN

I
Một hôm gió bấc thổi về nam
Báo hiệu thu tàn đông đã sang
Thấy rét lại thương người khốn khó
Chỉ mong đông đến một hòn than.
II
Lạnh hàn đâu chỉ có mùa đông
Ngoài nắng chang chang vẫn lạnh lòng
Ai rõ tình đời cơn nóng lạnh
Lòng người khôn biết lúc sâu nông.

L’hiver s’approche

I
Un jour le vent d’aquilon souffle au sud
Ca signale que l’automne est sur son déclin
Il fait un virage à l’hiver en effet
Il y a le froid et encore
Il y a de la compassion
Pour les pauvres en difficulté
Qui désirent seulement
Un morceau de charbon en hiver.
II
Le froid non seulement se trouve en hiver
En dehors il fait du soleil ardent
Mais il y a du froid en cœur
Qui comprend le mouvement de la chaleur et du froid
Qui s’exprime dans le sentiment de la vie
Et dans le cœur de gens c’est difficile à connaitre
Quand son fond est profond ou maigre.
--
Chú dẫn:
Đầu giờ sáng đang cùng Phan Hùng Tiến trao đổi công việc, Phùng Mạnh Hà sang phòng nói, em có 2 câu thơ:
"Một hôm gió bắc thổi về nam
Báo hiệu thu tàn đông đã sang"
PMH
Sau giờ làm, xem lại thấy rằng đây là 2 câu chuẩn về luật và có ý. Mình tiếp thêm 2 câu thành bài hoàn chỉnh:
"Thấy rét lại thương người khốn khó
Chỉ mong đông đến một hòn than"
TĐP
Nhân tiện mình kể lại chuyện cái rét đối với những người khốn khó ý nghĩa như thế nào qua câu chuyện Cô bé bán diêm của An-Đéc-Xen và Câu thơ về người chết rét ngoài đường của Đỗ Phủ, Bài thơ Bán than của Trần Khánh Dư và bài Trong tuyết cho than trong Nhật ký trong tù.
Lúc nửa đêm lại viết thêm một khổ thơ 4 câu thành một khổ mới. Nhân lúc cao hứng làm thêm phần tiếng Pháp.
Trần Đông Phong

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

THÔNG BÁO TIN BUỒN

  Cụ Nguyễn Văn Nghiêu, bố bạn Nguyễn Lương Bách, đã từ trần vào hồi 5:30 sáng ngày 03/11/2014 (tức ngày 11 tháng 9 năm Giáp Ngọ) hưởng thọ 94 tuổi. Lễ viếng bắt đầu từ 9:05 ngày 04/11/2014 tại nhà riêng (xã Thanh Khê, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương), An táng vào hồi 7:15sáng ngày 05/11/2014 (tức ngày 13 tháng 9 năm Giáp Ngọ) tại quê nhà.
Đoàn đại biểu cựu học sinh lớp E lớp do Trưởng Ban liên lạc Trần Quang Hưng dẫn đầu sẽ đến viếng cụ Nguyễn văn Nghiêu, xuất phát từ Hà Nội vào lúc 7:00 sáng ngày Thứ Ba 04/11/2014 (tập trung tại bãi đỗ xe đường đôi phố Thái Thịnh 2).

Ban Liên lạc lớp xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình Nguyễn Lương Bách và thông báo tới toàn thể cựu học sinh lớp E chuyên toán HH 72-75 biết. Mọi chi tiết xin liên hệ trực tiếp với Trưởng Ban Trần Quang Hưng, Phó Ban Ngô Công Thành. (BLL)

Thứ Năm, 30 tháng 10, 2014

Tôi không dự ngày truyền thống của trường chuyên Nguyễn Trãi

Tôi không tham dự ngày truyền thống của trường chuyên Nguyễn Trãi, vì mấy lý do sau đây (cả mấy lý do, chứ không phải vì một lý do nào)
1. Dịp đó tôi bận
2. Tôi không thích chương trình kỷ niệm của Ban Tổ chức. Việc này tôi đã góp ý đàng hoàng, trực tiếp với một người thuộc Ban tổ chức. Tôi cho rằng, đó chỉ nên là chương trình kỷ niệm ngày truyền thống của Trường Chuyên Nguyễn Trãi thôi. Những lớp chuyên toán trước khi có trường Nguyễn Trãi chỉ nên là đại diện, kiểu như các bạn "về nguồn", chứ những người học chuyên toán trước đó không hề có kỷ niệm gì với trường Nguyễn Trãi của các bạn, trước đó cũng chỉ có một lớp chuyên toán, gửi vào các trường cấp 3. Nếu chương trình như các bạn vạch ra, thì vô hình chung đã không tôn trọng sự thật đó, gộp các lớp chuyên toán trước kia vào giống như các bạn đã học ở trường Nguyễn Trãi. Bạn phải nghĩ ra cách tổ chức thế nào đó, để buổi đó không biến thành buổi mít tinh, mà những người không phải quan chức, người không phải trường Nguyễn Trãi không bị lạc lõng.


Nói thêm về ý này: Tôi, tự đáy lòng, vẫn coi mình là học sinh lớp chuyên toán Hải Hưng thuộc Cấp 3 Thị xã Hưng Yên, kỷ niệm của tôi là về Trường cấp 3 Hưng Yên, các thày cô giáo tôi là thày cô ở cấp 3 Hưng yên, bạn bè đồng môn của tôi là ở Cấp 3 Hưng Yên. Vậy không có cớ gì tôi coi mình là một phần của trường Nguyễn Trãi. Nhưng nếu trường Nguyễn Trãi mời tôi như một đại biểu đi dự đại biểu cho các lớp chuyên trước kia, thì được, giống như các đơn vị khác mời, nhưng phải có giấy mời đại biểu, chứ tôi không phải học sinh trường Nguyễn Trãi, để đọc một cái thông báo trên mạng là đến. Tôi nghĩ các bạn thuộc các lớp học tại Cấp 3 Nam Sách, cấp 3 Hồng Quang cũng có tâm lý như vậy thôi. Chẳng phải tôi cao ngạo, mà vì một lý do đạo lý và khiêm tốn. Các thày cô giáo, bạn bè tôi ở cấp 3 Hưng yên sẽ nghĩ thế nào, nếu tôi tự coi mình là một phần của trường Cấp 3 Nguyễn Trãi.
3. Tôi đã nói thằng suy nghĩ của mình với một bạn ở Ban Tổ chức về chương trình, và rõ là bạn đó không thích. Nhất là chương trình thi lấy 10 bài hát truyền thống, tôi nói thế thì thành Hội diễn không chuyên. Một buổi lễ mà hát đến 10 bài tự sáng tác thì không ai chịu nổi. Chắc vì cách nói thẳng tưng của tôi mà các bạn không hề thích. Một bạn nào đó cũng đã tự xóa kết bạn chia sẻ Facebook Hội những người bạn trường Nguyễn Trãi, sau khi tôi góp ý về những comment của các bạn trẻ ấy (dĩ nhiên cũng có thể là tình cờ ai đó xóa, chứ không chắc là vì góp ý mà xóa). Các bạn toàn dùng từ "Nguyễn Trãi" ẩn từ "trường". Ví dụ: Nguyễn Trãi giỏi giang, Nguyễn Trãi đã đạt (cái này cái kia)... Nếu một Hội các người bạn mà không chấp nhận một ý kiến khác, thì hội ấy không biết thực chất lập ra nhằm mục tiêu gì?
4. Đây là chia sẻ nội bộ của tôi trên trang Blog E, tôi không có ý chia sẻ ý kiến này ra ngoài trang này. Đây chắc hẳn cũng là bệnh già, cái gì cũng suy đi nghĩ lại. Nhí nhố phạm vi hẹp, mà nghiêm trang ở đám đông. Các bạn trường Nguyễn Trãi nên để 10-20 năm nữa, thế hệ các lớp chuyên toán trước kia lụ khụ hoặc chết hết rồi, chỉ còn kỷ niệm về các lớp chuyên toán Hải Hưng nhắc nhở lại trên một dòng chữ vô hồn thôi, thì chẳng còn ý kiến nói ngang như của tôi. Nhưng khi đó, chắc gì các bạn đã coi chúng tôi là "tiền thân" của các bạn.
NXH

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2014

Đi ăn rươi (Đi ăn mlt)

Gọi nhau đi uống bia ở ngay Hà Nội thì khó lắm, nhưng ới nhau về tận Hải Dương Tứ Kỳ để ăn rươi, thì hô một tiếng, gần chục ông lốc nhốc nhét lên 2 cái xe 7 chỗ đi ngay. Phóng như rồ từ Hà Nội đến Tứ Kỳ hơn 60km, ăn bữa rươi tối rồi lại giải tán, thật chỉ có những kẻ biết cái ngon ma mị của rươi mới hiểu.
Hải Dương, Hải Phòng miền nước lợ lãnh địa Dương Kinh nhà Mạc cũ, là lãnh thổ của rươi. Tôi ở quê Kinh Môn cũng lắm rươi, mọi khi cữ tháng chín đôi mươi tháng mười mồng năm là hay về quê kiếm bữa rươi tươi. Nhưng mấy năm nay, mới phát hiện ra là ở Tứ Kỳ (Hải Dương) người ta đã thương mại hóa con rươi, bê rươi lên cỗ bàn nhà hàng đặc sản giỏi như thế nào. Vẫn con rươi, mà ở Tứ Kỳ họ chế ra nhiều món không ngờ, dân dã mà hiện đại.

Tôi đã nhiều lần viết về rươi, đả phá quan niệm của ông Vũ Bằng tán tụng trong “Thương nhớ Mười Hai”, vốn đã thành khuôn vàng thước ngọc tản văn về ẩm thực. Thực ra Vũ Bằng không sống ở vùng rươi, nên tán tụng buồn cười lắm.
Rươi là món một năm có một lần khoảng 2 tuần hiện ra, ngày xưa chỉ có ăn một khoảng cữ ấy thôi. Nay có máy lạnh, làm cả tấn rươi đông lạnh ăn quanh năm, bán quanh năm. Nhưng cái thứ lạnh đông sao bằng con rươi tươi, ngoe nguẩy cho vào nồi vào chảo…
Ngày xưa Vũ Bằng chỉ tán món rươi rán, rươi xào củ niễng, giờ thì những món ấy…  xưa rồi. Giờ tôi quảng cáo không công cho cái quán ở Tứ Kỳ.
Đầu bảng món rươi là “Rươi đốt”. Cho rươi tươi vào cái nồi đất bé xíu, cho gia vị gồm gừng thái chỉ, lá nốt (và những gì nữa thì chịu), rồi đốt âm ỉ từ 5 giờ đến 8 giờ. Cứ ủ như vậy để có món ngon, dĩ nhiên phải báo đặt trước cho nhà hàng. Khi mở vung ra, anh sẽ thấy nức mũi cái mùi đặc trưng không món nào có được.
Món rươi rán thì cũng như mọi nơi rán rươi. Quê tôi rán rươi toàn lá nốt, không có cái gì khác. Ở đây người ta cho thêm gừng. Và điều quan trọng là rán rươi là rươi, đừng có cho trứng hay thịt vào nhá. Khách sành ăn kêu lớn: “Chỉ rươi thôi nhá”
Món rươi nấu, ở đây người ta làm rươi thành những nắm to như nắm tay, chắc là có thêm bột dính hoặc trứng, với gia vị những gì cũng không rõ, chỉ biết có gừng. Món này có nước, gọi là súp rươi cũng đúng một trăm phần trăm. Anh súc một “bánh” rươi, thêm vài muôi nước, húp sì soạp. Chả có cái gì như thế.
Ở quê tôi có món rươi nấu dưa chua, ở đây người Tứ Kỳ chê, kêu là quê mùa. Thực ra các bác ấy không làm vì làm món này hao, bao nhiêu rươi cho vừa cái vị chua của dưa. Kho rươi cũng kho bằng dưa chua chỉ khác là mất vị rươi nhiều, mà tưởng như ăn cá, nên ở đây người làm hàng cũng không làm.
Có một món đang ăn thì cánh thổ công gọi: canh cải cá rô. Chả hiểu sao lại gọi canh cải cá rô vào bữa ăn rươi chuyên đề. Hóa ra, cái “cá rô” chính là rươi. Rươi nấu với rau cải đắng hóa ra mùi vị còn hợp và thơm ngon hơn là nấu cá rô với rau cải đắng. Chỉ có điều, trình bày hơi không đẹp. Bắt buộc phải thế. Con rươi nổi chìm như những con sâu trong bát canh, nếu ai có tư duy hình tượng mạnh thì không khỏi có cảm giác sợ. Nhưng bọn vùng rươi thì vốn quen rồi, sì sụp mà khen.
Chúng tôi đi với một nhóm các quan chức, giáo sư có, tiến sĩ có, đủ các anh lúc thường xênh xang áo mũ. Còn nhóm thổ công dẫn đi cũng có nhiều anh trai làng, quan xóm cho đến tỉnh. Một ông kể chuyện, hôm nọ có nhóm cán bộ cao cấp đến ăn rươi, cứ đòi xem con rươi, nhà hàng bảo: Các bác toàn những người không biết con rươi thế nào, nên ăn no rồi mới xem. Một ông cứ nằng nặc xem trước, cuối cùng đến lúc ăn thì gọi đĩa thịt gà gặm, cứ lắc đầu lè lưỡi, kêu kinh quá. Các ông ấy phân công tôi giới thiệu các món, phải trang nhã: 1-Vàng nén- thực ra là rươi đốt trong nồi đất; 2- Thoi bạc ngâm nước sâm- thực ra là món rươi nắm thành bánh nấu súp; 3- Hằng Nga nằm cười- thực ra là rươi rán;  vân vân toàn những mỹ từ, ví dụ món rau cải nấu rươi là “Rồng con trong rừng”. Còn một món, mang ra, có măng nấu với rươi, thì ông giới thiệu bảo các bác cứ ăn đi, rồi em nói tên món này sau. Ăn uống no nê, thì mọi người nhao nhao hỏi tên món ăn, cái món rươi nấu măng. Ông ấy cứ bảo, tên món ăn này em không dám nói, thôi thì cứ gọi là rươi nấu măng. Cái thói đời cứ chối lại muốn đòi. Vậy thì em nói thật, món ấy là “Rau âm phủ- Măng có phải là rau âm phủ không- Rau âm phủ nấu với… mủ lồn tiên”. Ha ha ha… Cả đám cười ré lên. Cái ông đã nhìn thấy con rươi lúc chưa vào nồi, gật lia lịa, đúng đúng rồi, mờ lờ tờ, mlt.
  

Tìm hiểu tầng lớp trí thức mới của Nhà nước Nga Xô Viết để hiểu cách đào tạo trí thức ở Việt Nam xã hội chủ nghĩa sau năm 1954

   Tập tiểu luận  Về trí thức Nga ( La Thành và Phạm Nguyên Trường dịch, nxb Tri thức H. 2009)  gồm có nhiều bài viết xuất sắc
+ Chân lý của triết học và sự thật của người trí thức
+ Khủng hoảng trí tuệ và sứ mệnh của tầng lớp trí thức cả hai cùng của  tác giả N.A. Berdaev
+ Tầng lớp kỹ giả -- Alekssandr Solzhenítsyn
+ Phẩm tính trí thức -- Dmitri Likhachev
Riêng bài Bàn về  số phận của tầng lớp có học ở Nga của Sergey Kirilov thì bàn sâu vào lớp trí thức Nga sau 1917. Tầng lớp này  đã được quan niệm như thế nào, nhà nước xô viết đã hình thành họ theo những cách thức ra sao, tại sao giới trí thức Nga  lại có bộ mặt như chúng ta đang thấy, tại sao trong thời đại mới,  đa số những người này dừng lại ở cái trình độ thảm hại và kèm theo  những suy đồi  về đạo đức quá rõ so với trí thức Nga trước Cách mạng.
Chúng tôi lược thuật  bài này, cốt để các bạn xa gần qua đó, từ trí thức Nga sau 1917, có thể hiểu thêm về lớp trí thức được đào tạo ở Hà Nội sau 1954.
Trong cơn thức tỉnh sau chiến tranh, nay là lúc xã hội thường hay chê trách lớp trí thức này về mọi mặt.  Nhưng nếu hiểu được người trí thức ở ta là thế và được nhào nặn như thế, chúng ta sẽ độ lượng với họ hơn với nghĩa… bớt hy vọng ở họ hơn.

Cũng như ở các nền văn hóa khác, nền văn hóa Nga trước 1917 mang tính thượng lưu. Lí do, chỉ có một số người có thể làm được việc mà đa số không thể làm nổi. Trí thức nói chung chỉ chiếm tối đa 10%, còn thấp nhất là 2 - 3%. Ở các cộng đồng khác đã vậy, ở Nga trước 1917 cũng vậy.
Đến thời Xô Viết, có một xu thế chỉ đạo việc đào tạo, đó là tạo nên giới tri thức không có sự tách biệt với dân chúng như thời Nga hoàng. Để làm được việc đó, người ta xóa bỏ những chuẩn mực cần thiết, tạo ra một lớp trí thức yếu ớt phàm tục, không có khả năng độc lập mà phụ thuộc nhà nước, do đó sống chết cũng phải trung thành với nhà nước. Tầng lớp trí thức này luôn luôn được bổ sung bởi các bộ phận ít học là quần chúng công nông, cho nên nó chỉ có trình độ rất thấp và một cấu trúc dễ bị phá vỡ.



Từ căm ghét đến tiêu diệt trí thức cũ và thay thế bằng trí thức mới
Chính quyền Xô Viết có một niềm căm ghét đặc biệt đối với nền văn hóa trước cách mạng, tồn tại trong lòng nó một giai tầng có học mang tính hiện đại. Do yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, những năm đầu, họ phải sử dụng tạm thời lớp trí thức đó, nhưng nhanh chóng tìm cách dần dần thủ tiêu những người này  -- cả với nghĩa đen lẫn nghĩa bóng là làm biến chất họ --, thay vào đó là những người của mình.
Cách mạng đặt ra mục đích tiêu diệt trí thức đồng thời tiêu diệt văn hóa cũ.
Mặc dù số trí thức tham gia nội chiến không nhiều, nhưng đại diện của tầng lớp trí thức vẫn chiếm từ 80 – 90% những người chống đối việc thiết lập chế độ Bolsevik. Lúc ấy  một phần lớn trí thức Nga  là người trong quân đội.
Vào năm 1917, tất cả những người có học, trong độ tuổi nghĩa vụ, đều là sĩ quan.
Những người Bolsevik nhận thức rõ kẻ thù thật sự của họ trong cuộc nội chiến không phải là bọn tư sản và địa chủ, mà chính là tầng lớp trí thức có quân hàm hoặc không đeo quân hàm.
Cuộc khủng bố đỏ được tiến hành nhằm vào tầng lớp trí thức ấy.
Các lãnh tụ Bolsevik coi việc giai cấp vô sản đã bẻ gãy được ý chí của tầng lớp trí thức là sự bảo vệ tốt nhất cho thắng lợi của cách mạng trong tương lai. Và cái mục đich cao cả ấy được dùng để biện hộ cho những hành động phản tiến hóa của họ.
Sự đàn áp thô bạo, nạn đói, bệnh dịch – vốn là hậu quả của cách mạng – làm mấy trăm ngàn trí thức thiệt mạng, một số thì lưu vong.
Những người còn sống sót thì bị thù ghét. Họ không có chỗ đứng trong các sơ đồ mác - xit bởi lúc nào cũng làm vướng cẳng các lí thuyết gia mác - xit. Theo quan niệm của những người xây dựng xã hội mới thì trong tương lai tầng lớp này sẽ không còn. Hệ thống giáo dục có mục đích tạo ra “một sự đồng nhất về mặt xã hội” (tương tự  như Việt Nam từng  có khẩu hiệu Trí thức hóa công nông và công nông hóa trí thức -- VTN)
Đào tạo lớp người thay thế.
Bùng nổ về số lượng đi đôi với sự hạ thấp chất lượng
Tầng lớp trí thức Nga trước cách mạng có số lượng tương đối nhỏ, khoảng từ 2- 3 triệu người tức khoảng 3% dân số.
 Ngược lại, dưới chính quyền Xô Viết, sự phát triển trí thức lại có tính cách ồ ạt, nhà nước chủ trương một sự phát triến nhanh chóng và giả tạo số người có học.
Tại sao cần vậy?
 Luôn luôn trong giới trí thức cũ, người ta nhận ra những chuyên gia nổi loạn.
Nảy sinh nhu cầu thay thế.
Nhưng cái mà người không thể làm được là chất lượng.
Vậy phải bù vào bằng sự  dư thừa số lượng để tạm an lòng.
Hầu như trong tất cả các giai đoạn lịch sử, người ta đều cố gắng thúc đẩy việc đào tạo các chuyên gia và phát triển hệ thống trường học. Mục đích là “biến tất cả mọi người thành trí thức” và không để cho giai tầng này được hưởng đặc quyền đặc lợi nữa. Tốc độ đào tạo kỹ sư và chuyên gia các ngành khác nhau vượt xa nhu cầu của nền kinh tế và được quyết định chủ yếu bởi nhu cầu chính trị và tuyên truyền.
 Có thể thấy sự gia tăng đột ngột số lượng người có học diễn ra trong những năm 1930 qua các con số - chỉ trong một chục năm lớp người này đã gia tăng gần 300%, riêng số người có bằng đại học và trung học chuyên nghiệp gia tăng 360%.
 Cú bùng nổ thứ hai diễn ra trong những năm 1950 – 1960, lúc đó trong một số ngành tốc độ phát triển lên đến 100% trong có một chục năm.
 Nhưng đặc điểm chung của cả hai giai đoạn bùng nổ này là  lớp tri thức mới có trình độ thấp hơn rất nhiều so với chuẩn mực trên thế giới.

Những trí thức xa lạ với văn hóa
Cuối những năm 80, cả Liên Xô có 87 triệu chuyên gia, trong đó 16 triệu người tốt nghiệp đại học. Sự phình ra một cách vô giới hạn tầng lớp tri thức dẫn đến hiện tượng giả tạo là mặc dù mức độ phát triển khoa học kĩ thuật và văn hóa xã hội của Liên Xô thấp hơn so với các nước phát triển ở châu Âu, nhưng lại đứng đầu về số lượng bác sĩ kỹ sư cán bộ nghiên cứu khoa học. Không chỉ về số lượng tuyệt đối mà Liên Xô còn đứng đầu tỉ lệ trí thức tính theo đầu người. Đồng thời lớp trí thức này lại được trả lương ở mức thấp nhất. Sự thấp kém nói ở đây không phải về giá trị tuyệt đối mà là thấp hẳn so với mức lương trung bình của cả nước.
Trở lại với sự so sánh trí thức cũ và mới. Nét đặc biệt của người trí thức mới là họ phải phủ nhận bản chất tinh hoa của mình. Kết quả là không có gì chung giữa tầng lớp có học hiện nay với lớp tri thức của nước Nga xưa.
Trong xã hội Xô Viết, một người bình thường (không phải nhân vật mà nhà nước đào tạo) gần với văn hóa truyền thống hơn là người có học kiểu Xô Viết.
Người bình thường ấy còn giữ khái niệm về một nền văn hóa chân chính.
Nhưng người bình thường ấy lại không phải là nhân vật chủ đạo của xã hội.
Người có học thời Xô Viết không hiểu gì về người trí thức trước cách mạng, cũng chả hiểu gì về châu Âu và văn hóa cổ điển. Họ bịa đặt ra một số nét đặc thù của văn hóa Nga, mà thực tế chỉ là thứ văn hóa bị hạ thấp và  đứng ngoài mọi chuẩn mực.
Hợp thức hóa tình trạng vô học của giới quan chức.
Không chỉ đẩy mạnh đào tạo và tăng nhanh sinh viên, người ta còn đề cử những người không có bằng cấp làm những việc đòi hỏi trí thức, bằng cách đó tạo ra một sự hỗn loạn mà chỉ chủ nghĩa xã hội mới có.
 Môt đặc điểm của bộ máy quan chức Xô Viết là sự phình ra vô tội vạ. Số lượng nhân viên nhà nước thời Nga hoàng tính tới 1917 là 576.000, tới 1923 – 1925  con số quan chức đã lên tới 2.230.000.
Vấn đề cắt giảm bộ máy phải nói đến thường xuyên, nhưng sát nhập, giải tán… chỉ là trò đùa. Không thể tưởng tượng nổi chế độ Xô Viết mà không có quá trình quan liêu hóa.
Việc làm giảm trình độ giới trí thức nói chung còn được thúc đẩy bởi việc có một số chuyên gia thực hành chỉ học theo lối hàm thụ cũng được đề bạt đặc cách.
Sinh ra hàng loạt chức vụ đòi hỏi đại học, việc này tạo ra đơn đặt hàng giả tạo với ngành giáo dục.
Người ta đòi hỏi có bằng cấp ngay cả khi đó là nghề lao động bình thường (kiểu đại học phòng cháy chữa cháy của Việt Nam VTN).
 Do hệ thống lương bổng quái gỡ, lại sinh ra hiện tượng có những người chỉ làm công việc như công nhân cũng phải xoay sở bằng được lấy bằng đại học, vì chỉ nhờ thế họ mới được tăng lương, -- tuy đó chỉ là đồng lương chết đói ( nhưng lại đã là quá cao so với lao động của họ. VTN)

Sự tầm thường đã đến với lớp người  vốn được coi là cao quý
Người ta đã học như thế nào?
Phần lớn giới trí thức Liên Xô được đào tạo rất hời hợt. Nguyên tắc lớn nhất của giáo dục Xô Viết là tầm thường hóa lao động trí óc, tầm thường hóa quá trình đào tạo những kẻ  muốn phát triển về mặt trí tuệ.
Trong những năm 1920 – 1930 người ta sử dụng rộng rãi phương pháp “học theo đội”, chỉ cần một sinh viên trả lời đúng là cả nhóm được cho qua kỳ kiểm tra. Các chuyên gia được đào tạo theo kiểu đó vốn có trình độ khá thấp ngay trước khi nhập trường, sẽ không thể nào so sánh được với các trí thức trước cách mạng. Trình độ văn hóa chung, nhất là trình độ các môn khoa học nhân văn do hệ thống nhà trường Liên Xô đào tạo không những đơn sơ cổ lỗ mà còn sai lầm có hại, vì đó không phải là kiến thức văn hóa thực thụ, mà đã bị làm méo bởi các nguyên tắc tư tưởng của đảng. Các môn học nhằm tạo ra cơ sở văn hóa tổng quát được dạy rất ít. Các trường đại học khoa học tự nhiên không có môn này, còn trong các trường khoa học xã hội nhân văn thì sinh viên lại được học một số kiến thức giống như thần học.
Đặc trưng của trí thức Nga là tính chất quý phái, tức là sang trọng vượt lên sự tầm thường, kết quả của sự tu dưỡng nhiều đời, có sự tham gia của kiến thức sách vở.
Tất cả những người có học đều có phẩm chất quý tộc ấy. Có quý tộc một đời lại có quý tộc kế thế, nhiều đời – bộ phận nhiều đời này mới thật là tinh hoa ổn định.
Có chân trong giới thượng lưu, người ta dễ dàng giữ được sự độc lập về tinh thần, dễ tự tin, tin vào giá trị thật của mình, và giữ được tính độc lập trước mọi hệ thống quyền lực. Có điều lạ là cả một giáo sư đại học lẫn ông giáo làng dạy tiểu học, họ đều chia sẻ cảm giác tự hào mà trí thức vốn có. Khi người trí thức không có cảm giác về thân phận cao quý của mình thì họ cho phép mình làm bậy.
Ở trên chúng ta đã xét tới việc học ngày nay. Học như thế thì làm sao giới trí thức mới có được cảm giác quý phái mà trí thức cũ đã có.
Thời Xô Viết, người ta chỉ lo tri thức không quên nguồn gốc công nông của mình. Bộ phận trí thức xuất thân lớp trên bị hạ nhục, bị làm phiền: người ta chỉ muốn họ quên họ từ đâu tới.
Nguyên tắc giai cấp, chiếu cố giai cấp, ưu tiên giai cấp, cho phép tình trạng phi chuẩn mực đối với những con người thuộc giai cấp công nông bộc lộ khá lộ liễu và thô bạo.
Đầu cách mạng, số sinh viên xuất thân từ tầng lớp có học, tức là lớp thượng lưu cũ chiếm 2/3.
Tới 1923, số này chỉ còn lại ½
Tới đầu những nằm 30 thì còn lại 20 – 10%.
Kết quả là ¾ trí thức Xô Viết là hạng F1 mới từ công nông lên. Đó là các trí thức một đời. Người trí thức khộng có khái niệm về sự cao quý của mình, về lòng tự trọng.
Trí thức cấp thấp và quan chức cấp cao. Xu thế bành trướng
Trước 1917, người trí thức giữ chức vụ cao trong bộ máy nhà nước không có bất động sản. Nhưng lương họ cao – cao gấp vài chục lần người lao động chân tay.
Sau cách mạng, thu nhập trí thức chỉ nhỉnh hơn chút ít so với thu nhập công nhân. Nếu thêm việc các quỹ gọi là “phúc lợi xã hội” cũng được tái phân phối theo hướng có lợi cho công nhân thì cho đến năm 1980, mức sống của tầng lớp trí thức chỉ bằng một nửa hoặc 40% mức sống của công nhân.
Ví dụ giáo viên thì lớp giáo viên tiểu học còn đỡ; lớp dạy đại học chỉ được nhận 20% mức lương trước cách mạng. Từ đó nảy sinh trong tầng lớp trí thức xu thế quan liêu hóa vì chỉ trở thành quan chức trong giới của mình thì mới có thể có mức thu nhập cao.
Sự xây dựng tri thức trong xã hội Xô Viết tiến hành theo nguyên tắc phản chọn lọc. Nó tiêu diệt những người ưu tú, lại cất nhắc những kẻ tồi tệ. Quá trình chọn lựa kéo dài hơn một nửa thế kỉ, những kẻ xấu xa nhất được nâng đỡ, việc này đã dẫn đến kết quả là, không những nhóm lãnh đạo chính trị chóp bu, mà cả những nấc thang thấp hơn của kim tự tháp quyền lực, đều nhung nhúc những kẻ không ra gì.
Đấy là lý do vì sao chế độ Xô Viết về nguyên tắc là không thể thay đổi được, dù lãnh đạo cao nhất bị thay đổi.
Nếu tầng lớp tinh hoa trong lĩnh vực quản lí trước cách mạng bao gồm những người được giáo dục và có học vấn tốt nhất trong thời đại của mình, và tầng lớp tinh hoa chính trị trong các nước châu Âu ngày nay cũng bao gồm chủ yếu là những người đã tốt nghiệp các trường đại học uy tín nhất, thì ở Liên Xô, bức tranh hoàn toàn ngược lại.
Tầng lớp lãnh đạo chính trị cao nhất gần như là những người có trình độ học vấn văn hóa kém nhất trong số những người lao động trí óc.
Mặc dù trong thời Xô Viết cũng có một số trường đại học có chất lượng cao nhưng hiếm khi những người tốt nghiệp các trường đại học như thế được gia nhập vào bộ phận tinh hoa trong lĩnh vực quản lí. Tầng lớp quản lí thường chỉ bao gồm những người tốt nghiệp các trường đại học tỉnh lẻ cộng với các trường Đảng cao cấp, nghĩa là những trường đại học có trình độ văn hóa thấp nhất nếu không nói là giả đại học.
Trình độ học vấn kém cỏi của giới quan chức dẫn đến sự đối lập quan chức – trí thức. Bộ máy quản lí thời Khruchev là một ví dụ tiêu biểu của chất lượng giáo dục khi họ tham gia vào việc quản lí.
Đây là giai đoạn mà sự tầm thường hóa giáo dục đại học đạt đến đỉnh điểm. Lạm phát trí thức  bùng nổ với nghĩa hàng chục trường đại học không đủ điều kiện đã được thành lập.
Đây cũng chính là giai đoạn hình thành cơ sở cho việc sản xuất thừa các chuyên gia.
 Kết quả và quá trình bành trướng số người lao động trí óc đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng uy tín của lao động trí óc. Tương lai của khoa học cũng gánh chịu những hậu quả nặng nề. Biên chế của các viện nghiên cứu khoa học tăng theo cấp số nhân.
Kể cả những kẻ tầm thường vốn không thể có hi vọng và bản thân không hề nghĩ việc nghiên cứu khoa học, cũng trở thành các “nhà khoa học”.
 Đến những năm 80 họ đã trở thành gánh nặng, khiến cho những dự định cải cách chỉ trở thành ảo tưởng. Hơn thế nữa, lúc đó do quá trình thay đổi thế hệ, lớp trẻ hãnh tiến này đã chiếm giữ hầu hết các vị trí lãnh đạo trong khoa học và thực hiện chính sách trí thức dội từ trên xuống theo đúng bản chất của mình.

Kết cục khó tránh
Chế độ Xô Viết, sau hàng chục năm phấn đấu đã gần đạt được thành công trong việc loại bỏ tầng lớp trí thức như một hiện tượng xã hội đặc thù, như một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh; hoàn toàn loại bỏ được đặc trưng mang tính thượng lưu của nó; và xóa bỏ được sự khác biệt về trình độ học vấn và vốn văn hóa giữa nó với đám quần chúng được gọi là nhân dân.
Có những khó khăn nhất định ngăn cản không cho tầng lớp có học hiện nay nhận thức được sự bất toàn về mặt xã hội của mình. Cơ sở tư tưởng của chế độ toàn trị cộng sản là sự sùng bái “con người bình thường”. Sau hàng chục năm bị thôi miên rằng chân tay quan trọng hơn đầu óc và đầu óc là để phục vụ cho chân tay, thì đầu óc – tức là lớp trí thức -- đã quen dần với định đề phản tự nhiên đó. Họ dần đánh mất phần lớn khả năng tư duy của mình và cho đến nay vẫn chưa có đủ dũng khí vươn lên để khẳng định vai trò của mình trong xã hội.
Những thành quả sáng chói của nền khoa học và văn hóa Nga thế kỉ XIX được tạo nên bởi những con người sinh ra trên những nguyên tắc có nguồn gốc từ sự phát triển xã hội ba thế kỉ trước.
Còn việc cố tình hạ thấp vai trò của trí thức và tiêu diệt trên thực tế tầng lớp này sau 1917 lại chỉ bắt nguồn từ sự trì trệ trong vận động lịch sử của những thập kỉ gần đây.
Kết quả là chúng ta có một tầng lớp có học nhưng không có khả năng thực hiện các thiên chức của nó.
Cuối cùng trong xã hội Xô Viết, chỉ có một chút ngoại lệ là các nhà trí thức hàn lâm và các nhà kĩ thuật quân sự, vốn được đào tạo như một khu vực tách rời khỏi xã hội. Sau năm 1991, chính bộ phận này khi ra nước ngoài đã hòa nhập được với giới khoa học của các nước phương Tây.
Muốn thay đổi được thực trạng nói trên thì chính nhà nước phải có một quan niệm khác đi về giới tri thức. Phải công nhận rằng trong xã hội Xô Viết đã hình thành một lớp kỹ giả ngu dốt – vô năng. Đoạn tuyệt với họ rất khó. Người trí thức chân chính sau 1991 vẫn không thể lọt vào cả giới chính trị lẫn giới kinh doanh – môi trường kinh doanh vốn đầy tính chất mafia của Nga.
Tầng lớp tinh hoa trí thức như một giai tầng xã hội chỉ có thể được hình thành nhờ những cố gắng mang tính chủ động của nhà nước. Phải bắt đầu bằng sự phủ nhận rằng chúng ta đã làm sai, đào tạo sai thì sau đó mới có thể bắt tay làm lại mọi việc. Không có sự cố gắng như thế, đất nước -- trong trường hợp tốt nhất -- chỉ biến thành người cung cấp chuyên gia cho các nước khác mà thôi.

Theohttp://vuongtrinhan.blogspot.com/2014/10/tim-hieu-chinh-sach-ao-tao-lop-tri-thuc.html